Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

MGMT1135 Organisational Behaviour: khi điều bạn tin lại là vấn đề?

16 phút đọc3,177 từ

Người duyệt: MAAS-EXP-26, MBA Kinh doanh & Quản trị và Logistics & Chuỗi cung ứng (Việt Nam · Úc)

Trả lời thẳng: MGMT1135 là môn Organisational Behaviour của University of Western Australia, và nó chấm khả năng hỏi một khẳng định bắt nguồn từ đâu chứ không chấm việc nhớ quan điểm phổ biến. Sáu chuẩn đầu ra tách riêng việc diễn giải, phân tích và tạo giải pháp, nên bài tốt đi từ chẩn đoán đúng cấp độ sang khuyến nghị, và neo những nhận định quan trọng vào bằng chứng, ưu tiên bằng chứng đã qua bình duyệt.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 12/08/2026
Chuyên mục: business-management

Phần lớn môn kinh doanh năm nhất bắt đầu từ con số không, còn hành vi tổ chức thì không như vậy. Sinh viên bước vào lớp với sẵn những quan điểm về động lực, tính cách, làm việc nhóm và lãnh đạo, hấp thụ từ sách quản trị bán chạy và các buổi tập huấn ở nơi làm việc. Một phần không nhỏ trong số đó không có bằng chứng nào chống đỡ, và một phần đã bị bác bỏ thẳng. Vì vậy môn này coi cách tiếp cận dựa trên bằng chứng là một chuẩn đầu ra được nêu rõ, chứ không phải điều mặc nhiên ai cũng biết, và nó dạy sinh viên hỏi một khẳng định bắt nguồn từ đâu. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như thế.

MGMT1135 là môn gì, và nó nằm ở đâu trong chương trình?

Trả lời thẳng: Tại University of Western Australia, MGMT1135 là môn Organisational Behaviour, môn bậc 1, mở ở kỳ ngoài lịch chuẩn lẫn cả hai học kỳ chính, do bộ môn Management and Organisations phụ trách. Môn này không tương thích với MGMT2235, và là môn cốt lõi của chương trình Bachelor of Commerce cùng với ACCT1101, ECON1101 và MKTG1203. Thời lượng lên lớp tới 3 giờ mỗi tuần.

Tầm quan trọng về mặt cấu trúc của môn lộ ra ở chỗ những môn nào phụ thuộc vào nó. MGMT1135 là tiên quyết cho HRMT2237 Human Resource Management, INMT2232 Project Management, MGMT2311 Organisational Learning and Innovation, MGMT2341 International Management và EMPL2202 Australian Employment Relations. Một môn năm nhất chắn cửa 5 môn bậc 2 khác nhau thì không thể coi là một thủ tục nhập môn.

Một sinh viên định theo chuyên ngành quản trị nhân sự đã coi môn này là kiến thức nền chung, qua rồi thì đi tiếp. Hai năm sau, đúng những thói quen mà môn ấy lẽ ra phải rèn cho bạn ấy, nhất là thói quen hỏi xem đằng sau một khẳng định quản trị có bằng chứng gì, lại chính là thứ mà các bài tập bậc 3 mặc định bạn ấy đã có.

Các chuẩn đầu ra của MGMT1135 thật ra đòi hỏi điều gì?

Trả lời thẳng: Môn này liệt kê sáu chuẩn đầu ra, gồm giải thích lý thuyết hành vi tổ chức xuyên văn hoá, trình bày quản trị dựa trên bằng chứng, và diễn giải vấn đề ở cấp cá nhân, liên cá nhân hoặc nhóm. Diễn giải, phân tích và tạo giải pháp là ba thao tác riêng, đều được kiểm qua điểm tham gia, bài tập và bài thi, nên thoả một chuẩn chưa có nghĩa là thoả các chuẩn kia.

Bảng sáu chuẩn đầu ra môn MGMT1135 hành vi tổ chức, mỗi chuẩn đòi hỏi điều gì, và lỗi thường gặp làm mất điểm ở từng chuẩn
Diễn giải, phân tích và tạo giải pháp là ba chuẩn đầu ra riêng biệt, và thoả một chuẩn không có nghĩa là thoả các chuẩn còn lại

Chuẩn đầu ra Nó đòi gì Sinh viên hụt ở đâu
Giải thích lý thuyết và khái niệm hành vi tổ chức xuyên các nền văn hoá và quốc gia Lý thuyết kèm điều kiện biên về văn hoá Áp lý thuyết như thể nó trung tính về văn hoá
Trình bày tầm quan trọng của cách tiếp cận dựa trên bằng chứng Coi chất lượng bằng chứng là một phần của câu trả lời Trích bất cứ thứ gì đang phổ biến
Diễn giải vấn đề tổ chức theo tiến trình cá nhân, liên cá nhân và nhóm Định vị vấn đề đúng cấp độ Giải thích một vấn đề nhóm bằng đặc điểm cá nhân
Phân tích vấn đề bằng các khung lý thuyết đã được thiết lập Vận dụng đúng một khung có tên Gọi tên một khung rồi lập luận không theo khung đó
Tạo giải pháp từ các nguyên lý hành vi tổ chức đã được nghiên cứu kỹ Đi từ chẩn đoán sang can thiệp Khuyến nghị trước khi chẩn đoán
Phát triển kỹ năng giao tiếp nói và viết Giao tiếp là nội dung được chấm Coi đó chỉ là chuyện trau chuốt hình thức

Bạn hãy để ý các chuẩn đầu ra tách riêng ba việc diễn giải, phân tích và tạo giải pháp. Đó là ba thao tác khác nhau, và cấu trúc đánh giá gồm điểm tham gia, bài tập và bài thi cho mỗi thao tác một chỗ để được kiểm tra. Một bài diễn giải tình huống rất tốt rồi dừng lại mới thoả mãn được một trong ba chuẩn đầu ra mà đề bài nhiều khả năng đang nhắm tới.

Với một tình huống về nhóm liên tục trễ hạn, một sinh viên đã chẩn đoán rằng các thành viên có mức tận tâm thấp và khuyến nghị đổi cách tuyển người. Một sinh viên khác hỏi lại liệu vấn đề có thật sự nằm ở cấp cá nhân hay không, chỉ ra một thất bại về phối hợp và về sự rõ ràng vai trò ở cấp nhóm, rồi đề xuất can thiệp nhắm đúng vào đó. Bài thứ hai dùng chuẩn đầu ra thứ ba đúng như nó được thiết kế.

Vì sao cụm "dựa trên bằng chứng" xuất hiện ngay ở chuẩn đầu ra năm nhất?

Trả lời thẳng: Vì ngành quản trị có một khoảng cách đã được ghi nhận giữa điều nghiên cứu chỉ ra và điều thực tiễn làm, khoảng cách Rousseau (2006) gọi tên, và trong lịch sử, sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh vốn góp phần duy trì khoảng cách ấy hơn là thu hẹp nó. Briner, Denyer và Rousseau (2009) cho rằng khái niệm quản trị dựa trên bằng chứng cần được làm rõ trước khi có thể áp dụng đúng.

Ý tưởng này có một xuất xứ cụ thể mà sinh viên trích dẫn được. Rousseau (2006), trong bài phát biểu với tư cách Chủ tịch Academy of Management, xem xét những hứa hẹn mà nghiên cứu về tổ chức mang lại cho thực tiễn quản trị và cả chỗ nó còn hụt, lấy y học dựa trên bằng chứng làm hình mẫu để khép lại thứ bà gọi là khoảng cách nghiên cứu và thực tiễn, tức việc các tổ chức và nhà quản trị không đặt cách làm của mình trên bằng chứng tốt nhất hiện có. Một thập kỷ sau, khi tổng kết lại lĩnh vực này, Rynes và Bartunek (2017) lần theo quá trình phong trào ấy phát triển và nêu một phát hiện đáng nhớ. Một khảo sát hơn 800 đề cương của các môn bắt buộc trong chương trình quản trị cho thấy chỉ khoảng 26% có vẻ đang dạy theo các nguyên lý quản trị dựa trên bằng chứng, và tỷ lệ này cao hơn ở các môn hành vi tổ chức, nơi nó đạt khoảng 48% (Charlier và cộng sự, 2011, dẫn theo Rynes & Bartunek, 2017).

Hãy đọc kỹ con số thứ hai. Hành vi tổ chức là nhóm môn làm tốt nhất ở chỉ tiêu này, vậy mà vẫn chưa chạm nổi một nửa, nên việc môn của bạn nêu đích danh chuẩn đầu ra đó đặt nó vào nhóm thiểu số mà Rynes và Bartunek (2017) mô tả.

Một sinh viên đã viết bài khuyến nghị dùng một bài trắc nghiệm tính cách để cải thiện cách ghép nhóm, và trích một tài liệu quảng bá của công ty tư vấn. Một bài mạnh hơn cũng khuyến nghị tương tự, nhưng nói rõ công cụ đo nào có bằng chứng về độ giá trị đã qua bình duyệt đứng sau lưng, và công cụ nào chỉ phổ biến mà không có. Cùng một khuyến nghị, nhưng chuẩn lập luận khác hẳn nhau.

Một khẳng định đã bị bác bỏ trông ra sao, và xử lý nó thế nào?

Trả lời thẳng: Bạn xử lý nó thận trọng, bằng tài liệu chứ không bằng sự tự tin, theo chuẩn Pashler và cộng sự (2008) đặt cho tranh luận về phong cách học tập và tinh thần kiểm tra lại của Open Science Collaboration (2015). Kỹ năng đáng có nhất là biết cách kiểm tra, không phải biết ý tưởng phổ biến nào sai, và sẵn lòng báo cáo bức tranh không thuần nhất khi đó là điều bạn tìm thấy.

Phong cách học tập là ví dụ kinh điển, và cách cuộc tranh luận này dịch chuyển còn đáng học hơn cả cái tít. Pashler và cộng sự (2008) đặt ra điều kiện bằng chứng cần có để hợp thức hoá việc dạy theo phong cách học tập, cụ thể là một tương tác chéo trong đó phương pháp giảng dạy tốt nhất cho nhóm phong cách này không phải phương pháp tốt nhất cho nhóm kia. Họ kết luận rằng gần như không tìm được bằng chứng nào đạt chuẩn ấy, trong khi có vài nghiên cứu thiết kế tốt còn cho kết quả mâu thuẫn thẳng với giả thuyết. Nguyên văn kết luận của họ là "the literature fails to provide adequate support for applying learning-style assessments in school settings" (Pashler et al., 2008, p. 116), tức tài liệu hiện có không đủ để chống đỡ việc áp dụng đánh giá phong cách học tập vào lớp học. Kết luận đó sau này được nhắc lại rộng rãi như một chuyện đã ngã ngũ. Nhưng câu hỏi vẫn tiếp tục được xem xét, và công trình phân tích tổng hợp về sau ghi nhận một hiệu ứng nhỏ, đồng thời vẫn thấy phần lớn kết quả học tập không cho ra tương tác chéo, và những nghiên cứu có cho ra thì phần lớn không đạt chuẩn chất lượng.

Một sinh viên đã viết rằng phong cách học tập bị bác bỏ, chấm hết. Một đoạn hay hơn sẽ nói rằng loại bằng chứng cần có để biện minh cho việc thiết kế bài giảng theo phong cách học tập vẫn chưa được tạo ra, rằng những tuyên bố mạnh nhất dành cho ý tưởng này không có gì chống đỡ, và rằng điều đó khác với việc chứng minh không hề tồn tại hiệu ứng nào. Bản thứ hai vừa chính xác hơn vừa chứng minh được chuẩn đầu ra thứ hai, thay vì chỉ nhắc tới nó cho có.

Xử lý chuẩn đầu ra về xuyên văn hoá thế nào mà không rơi vào định kiến?

Trả lời thẳng: Bạn nên coi văn hoá là một điều kiện biên của lý thuyết, đừng coi nó là một bộ đặc tính quốc gia mà bạn gắn lên con người. Chuẩn đầu ra đòi bạn giải thích lý thuyết xuyên các nền văn hoá, và đó là câu hỏi về việc một phát hiện còn đúng tới đâu.

Phần lớn nghiên cứu nền tảng của hành vi tổ chức được tiến hành trong một dải bối cảnh khá hẹp, nên câu hỏi trung thực với bất kỳ lý thuyết nào là nó đã được lặp lại kiểm chứng ở đâu và chưa được ở đâu. Cách đặt vấn đề đó vừa bảo vệ được vừa dựa trên bằng chứng. Còn liệt kê đặc điểm theo quốc tịch thì không đạt cả hai, và nó cũng trượt luôn khía cạnh đạo đức mà chuyên ngành Quản trị nêu riêng thành một chuẩn đầu ra.

Khi được yêu cầu áp dụng một lý thuyết động lực vào công ty con ở nước ngoài, một bài yếu hơn đã khẳng định rằng nhân viên ở nước đó lấy sự hoà thuận trong nhóm làm động lực. Một bài mạnh hơn hỏi những thành phần nào của lý thuyết có bằng chứng xuyên văn hoá chống đỡ, chỉ ra chỗ nào bằng chứng còn mỏng, rồi đề xuất cách để tổ chức tự tìm hiểu thay vì mặc định.

Nên làm việc theo trình tự nào?

Trả lời thẳng: Trước khi dùng một khung lý thuyết, hãy ghi lại xuất xứ và bằng chứng kiểm chứng của nó, rồi chẩn đoán đúng cấp độ vấn đề trước khi chọn lý thuyết phù hợp. Sau đó tách phần chẩn đoán khỏi phần khuyến nghị, kiểm xem một khẳng định phổ biến có bình duyệt chống đỡ hay không, báo cáo bằng chứng không thuần nhất đúng như vậy, và coi giao tiếp là nội dung được chấm.

Sơ đồ quy trình sáu bước để tiếp cận assignment MGMT1135 hành vi tổ chức, từ kiểm chứng xuất xứ khung lý thuyết đến coi giao tiếp là nội dung được chấm
Chẩn đoán đúng cấp độ trước khi chọn lý thuyết, rồi tách phần chẩn đoán khỏi phần khuyến nghị

  1. Trước khi dùng bất kỳ khung lý thuyết nào, viết một dòng về xuất xứ của nó và một dòng về việc nó đã được kiểm chứng ở đâu.
  2. Chẩn đoán cấp độ trước khi chọn lý thuyết, vì vấn đề cá nhân, liên cá nhân và nhóm có cách giải thích khác nhau và cách sửa khác nhau.
  3. Tách phần chẩn đoán khỏi phần khuyến nghị ngay trong bố cục, để người chấm thấy được bạn đã làm cả hai.
  4. Khi trích một thứ đang phổ biến, hãy tìm xem nó có nghiên cứu bình duyệt chống đỡ hay không. Nếu không, bạn vẫn bàn về nó được, nhưng phải nói rõ điều đó.
  5. Bằng chứng không thuần nhất thì trình bày đúng là không thuần nhất. Thổi phồng một lời bác bỏ cũng là lỗi ngang với thổi phồng một khẳng định.
  6. Coi chuẩn đầu ra về giao tiếp là nội dung. Nó được liệt kê thành chuẩn đầu ra, nghĩa là nó đang được chấm, không phải chỉ được để ý.

Câu hỏi thường gặp

Hành vi tổ chức có phải môn dễ vì không có toán không?
Môn này không có phần tính toán, và điều đó không đồng nghĩa với dễ. Rynes và Bartunek (2017) hẳn sẽ nói rằng vấn đề về chất lượng lập luận chính là điều phong trào quản trị dựa trên bằng chứng sinh ra để sửa. Cái khó nằm ở chất lượng lập luận, cụ thể là ở việc cưỡng lại một lời giải thích nghe rất hợp lý mà chẳng có bằng chứng nào đứng sau.

Em dùng ví dụ từ chỗ làm của mình được không?
Thường là được, và nó hay làm bài mạnh lên, nhưng trải nghiệm cá nhân là một minh hoạ chứ không phải bằng chứng, đúng ranh giới mà Rynes và Bartunek (2017) vạch giữa một giai thoại và một phát hiện đã được kiểm chứng. Hãy neo lập luận vào tài liệu nghiên cứu, rồi dùng ví dụ của bạn để cho thấy cơ chế vận hành.

Nếu giáo trình trình bày một mô hình mà nghiên cứu đã đặt dấu hỏi thì sao?
Hãy theo đề cương môn trước đã, áp đúng sự thận trọng về bằng chứng mà Pashler và cộng sự (2008) áp dụng trước khi chấp nhận một khẳng định về phương pháp giảng dạy. Ở chỗ còn dư địa, nước đi mạnh nhất là trình bày mô hình đúng như môn học dạy rồi thêm một câu về tình trạng bằng chứng hiện nay. Như vậy là chứng minh được chuẩn đầu ra thứ hai chứ không phải cãi lại tài liệu học.

Làm sao biết một nguồn có đủ đáng tin không?
Hãy hỏi xem khẳng định đó đã được kiểm tra và công bố ở nơi có khâu bình duyệt chưa, đúng ngưỡng tối thiểu mà Rousseau (2006) đặt ra để gọi một cách làm là dựa trên bằng chứng. Một báo cáo của công ty tư vấn có thể là mô tả hữu ích về thực tiễn, nhưng nó không cùng hạng bằng chứng với một nghiên cứu đã qua bình duyệt.

Môn MGMT1135 có quan trọng không nếu em không theo chuyên ngành quản trị?
Nó là môn cốt lõi của Bachelor of Commerce và là tiên quyết cho 5 môn bậc 2 thuộc mảng quản trị và nhân sự, nên nó sẽ giới hạn lựa chọn của bạn bất kể bạn theo chuyên ngành nào.


MAAS đứng ở đâu trong việc này?

Chuyên gia MAAS làm việc cùng sinh viên ở những môn như thế này, chứ không làm thay, và đặt đúng câu hỏi "sao bạn biết điều đó" mà Rousseau (2006) cùng Rynes và Bartunek (2017) đặt ở trung tâm của thực hành dựa trên bằng chứng. Với hành vi tổ chức, nửa giờ giá trị nhất thường trôi qua với đúng một câu hỏi được lặp đi lặp lại trên bản nháp của bạn: sao bạn biết điều đó? Câu hỏi ấy làm lộ ra những khẳng định chỉ dựa vào một thứ bạn từng đọc đâu đó, tách phần chẩn đoán khỏi phần khuyến nghị, và biến một bài luận trôi chảy thành một bài luận có lập luận. Bài viết vẫn là của bạn. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ học thuật và dịch vụ gia sư của MAAS là hai chỗ để bắt đầu.


References

Briner, R. B., Denyer, D., & Rousseau, D. M. (2009). Evidence-based management: Concept cleanup time? Academy of Management Perspectives, 23(4), 19–32. https://doi.org/10.5465/amp.2009.45590138

Open Science Collaboration. (2015). Estimating the reproducibility of psychological science. Science, 349(6251), aac4716. https://doi.org/10.1126/science.aac4716

Pashler, H., McDaniel, M., Rohrer, D., & Bjork, R. (2008). Learning styles: Concepts and evidence. Psychological Science in the Public Interest, 9(3), 105–119. https://doi.org/10.1111/j.1539-6053.2009.01038.x

Rousseau, D. M. (2006). Is there such a thing as "evidence-based management"? Academy of Management Review, 31(2), 256–269. https://doi.org/10.5465/amr.2006.20208679

Rynes, S. L., & Bartunek, J. M. (2017). Evidence-based management: Foundations, development, controversies and future. Annual Review of Organizational Psychology and Organizational Behavior, 4, 235–261. https://doi.org/10.1146/annurev-orgpsych-032516-113306

Tools & resources

The University of Western Australia. (2026). Organisational Behaviour [MGMT1135], Handbook 2026. https://www.handbooks.uwa.edu.au/unitdetails?code=MGMT1135

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 20 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.