Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

MGMT1007: điều gì thay đổi khi một môn không có bài thi và cũng không có bài luận?

16 phút đọc3,127 từ

Phần lớn các môn kinh doanh năm nhất kết thúc bằng một kỳ thi, và phần lớn bài viết là bài luận hoặc báo cáo. Môn này không có cả hai. Ba bài đánh giá gồm một bài xử lý vấn đề dựa trên bằng chứng, một infographic, và một bài tự nhìn lại chính sự tham gia của bạn, mà mỗi bài lại thưởng cho một kỹ năng khác hẳn những gì sinh viên quen viết luận đã rèn được. Môn này không khó hơn một môn thông thường, nhưng khó chuẩn bị hơn nếu bạn ôn theo thói quen, và điểm số rơi rụng đúng ở chỗ đó. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như vậy tại Macquarie Business School.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật: 19/08/2026
Chuyên mục: business-management

Hai sinh viên làm việc trên máy tính xách tay trong phòng máy và ghi chép
Ảnh minh hoạ

Trước tiên, hãy xác nhận bạn đang học MGMT1007 của trường nào

Trả lời trực tiếp: Bài viết này mô tả môn MGMT1007 Introduction to Human Resource Management của Macquarie University, 10 điểm tín chỉ, bậc 1000, do Macquarie Business School giảng dạy. Môn không có điều kiện tiên quyết, và có quy định không tính tín chỉ chồng với HRM107 là mã cũ trước năm 2020 của cùng khối kiến thức.

Bằng chứng: Bản handbook 2026 ghi môn mở ở cả kỳ 1 và kỳ 2, học trực tiếp vào ngày thường tại cơ sở North Ryde, New South Wales, hoặc học trực tuyến theo lịch cố định ngày thường. Macquarie University thành lập năm 1964, và Macquarie Business School là nơi trực tiếp phụ trách thiết kế đánh giá của môn này. Cách dạy gồm bài giảng ghi hình sẵn cộng một buổi tutorial trực tiếp, nghĩa là tutorial là buổi học duy nhất có lịch cố định, và như bài đánh giá thứ ba cho thấy, trên thực tế nó không phải là buổi tự chọn.

Ví dụ: Một bạn tìm được tài liệu MGMT1007 trên mạng từ khoá sinh viên trước năm 2020 đã ôn cho một kỳ thi nay không còn tồn tại. Danh mục chủ đề gần như không đổi. Nhưng thiết kế đánh giá thì đổi hoàn toàn tại Macquarie University, mà đây mới là phần quyết định bạn phải học thế nào.


Môn này thật ra nói về cái gì?

Trả lời trực tiếp: Ở Macquarie Business School, quản trị nguồn nhân lực trong bối cảnh nước Úc gồm hoạch định nhân lực và tuyển dụng, đào tạo và phát triển nhân viên, đánh giá thành tích, quản lý lực lượng lao động, cùng an toàn và sức khoẻ nơi làm việc, mảng có khung pháp lý nền là Work Health and Safety Act 2011, đặt cạnh những yếu tố môi trường định hình chiến lược nhân sự.

Bằng chứng: Ba chuẩn đầu ra học tập đóng vai trò khung sườn cho môn này, gọi tắt là ULO1, ULO2 và ULO3 trong đề cương Macquarie Business School. Handbook ghi rằng khi học xong bạn phải chỉ ra được mối liên hệ giữa các mảng khác nhau của quản trị nhân lực và đóng góp của nó trong doanh nghiệp. Từ khoá là mối liên hệ. Các chủ đề được dạy tuần tự, nhưng chuẩn đầu ra lại nói về cách chúng nối vào nhau, và đây đúng là phần mà kiểu ôn theo từng chủ đề riêng lẻ không bao giờ dựng lên được, theo đúng ULO2 mà Macquarie Business School công bố.

Ví dụ: Khi được hỏi hệ thống đánh giá thành tích liên quan thế nào tới đào tạo, một bạn mô tả chính xác cả hai nhưng tách rời. Câu trả lời mạnh hơn chỉ ra rằng đánh giá thành tích chính là thứ sinh ra bản phân tích nhu cầu đào tạo mà các chương trình phát triển lẽ ra phải dựa vào, và khi hai thứ này do hai bộ phận khác nhau thiết kế thì mối nối ấy đứt. Cùng một khối kiến thức, nhưng được nối lại thay vì được liệt kê, đúng cách Rousseau và Barends (2011), công bố trên Human Resource Management Journal, mô tả tư duy phản biện trong nghề nhân sự.

Chuẩn đầu ra Nó đòi gì Chỗ sinh viên làm chưa tới
ULO1: nhận diện và tìm hiểu các khái niệm, lý thuyết cốt lõi của quản trị nhân lực Biết lĩnh vực và biết cách đào sâu vào nó Dừng lại ở định nghĩa trong giáo trình
ULO2: giải thích và phân tích mối liên hệ giữa quản trị nhân lực với các quy trình, kế hoạch, chính sách tạo nên tổ chức bền vững Nối chức năng nhân sự vào hoạt động kinh doanh Coi quản trị nhân lực là một chủ đề khép kín
ULO3: phát triển và vận dụng tư duy phản biện cùng kỹ năng lập luận, cả viết lẫn nói Dựng lập luận ở cả hai kênh Chỉ chuẩn bị cho kênh viết

Hãy để ý ULO3 gọi tên lập luận bằng lời ngang hàng với lập luận bằng chữ. Trong một môn mà buổi tutorial là buổi học duy nhất có lịch cố định, chi tiết ấy không phải để trang trí.


Ba bài đánh giá, và vì sao không bài nào là bài luận

Trả lời trực tiếp: Một bài xử lý vấn đề chiếm 30%, một bài trình bày chiếm 40%, và một bài tự nhìn lại chiếm 30%. Bài trình bày là cấu phần đơn lẻ lớn nhất, mà nó lại là một infographic chứ không phải một buổi thuyết trình hay một bài viết.

Ba số liệu về trọng số đánh giá của MGMT1007, bài xử lý vấn đề chiếm 30 phần trăm, infographic trình bày chiếm 40 phần trăm, và bài tự nhìn lại chiếm 30 phần trăm.
Infographic có trọng số lớn nhất, không phải bài đánh giá nguồn.

Bằng chứng: Handbook nêu rõ mục đích từng bài. Bài xử lý vấn đề yêu cầu bạn tóm lược và đánh giá một tập nguồn học thuật, xét chất lượng và mức độ liên quan của chúng, nhằm hình thành tư duy phân tích, năng lực đọc nghiên cứu và lối làm việc dựa trên bằng chứng của nghề nhân sự hiện đại. Bài trình bày yêu cầu bạn tạo một infographic chuyển lý thuyết và bằng chứng nhân sự thành thông điệp trực quan rõ ràng, theo đúng cách người làm nhân sự truyền đạt chính sách tới các bên liên quan. Bài tự nhìn lại yêu cầu bạn xem xét mức độ tham gia và đóng góp của mình trong tutorial, cùng việc những hành vi ấy liên hệ ra sao với kỳ vọng dành cho một nhân viên.

Ví dụ: Một bạn phân bổ công sức theo cảm nhận về độ khó, dồn phần lớn thời gian cho bài đánh giá nguồn vì nó trông học thuật nhất, rồi coi infographic là bài thiết kế làm nốt trong đêm trước hạn. Infographic lại có trọng số cao hơn cả hai bài kia. Công sức đi theo sự quen thuộc thay vì đi theo trọng số, đây là kiểu đọc sai rất phổ biến tại Macquarie University và phải trả giá đắt.


Bài đánh giá nguồn thật ra thưởng điểm cho điều gì?

Trả lời trực tiếp: Cho khả năng phán đoán về nguồn, không phải cho việc bao phủ được bao nhiêu nguồn. Bài tập yêu cầu bạn xét chất lượng và mức độ liên quan, nghĩa là một nguồn bạn xem xét rồi gạt sang bên kèm lý do có thể ăn điểm hơn một nguồn bạn tóm tắt lại và khen, đúng tinh thần Rousseau và Barends (2011) đặt ra cho nghề nhân sự.

Bằng chứng: Mục đích bài ghi rõ là lối làm việc dựa trên bằng chứng, mà cụm này có nghĩa rất cụ thể trong ngành. Bài viết năm 2011 do Rousseau, giáo sư tại Carnegie Mellon University, cùng Barends, đồng sáng lập Center for Evidence-Based Management, thực hiện, mô tả quản trị nhân lực dựa trên bằng chứng là sự kết hợp giữa tư duy phản biện với bằng chứng khoa học tốt nhất hiện có và thông tin từ chính tổ chức, và trọng tâm của họ nằm ở việc thẩm định bằng chứng chứ không ở việc gom góp nó. Nguyên văn của họ viết rằng "critical thinking means actively exploring alternatives, seeking understanding and testing assumptions about the effectiveness of one's own professional decisions and activities" (Rousseau & Barends, 2011, p. 221). Một người trích sáu nghiên cứu mà không cân đo chúng thì chưa hề làm việc dựa trên bằng chứng. Rousseau và Barends sau đó viết chung cuốn Evidence Based Management, tài liệu nhiều chương trình MBA dùng làm giáo trình cho đúng cách đọc này.

Ví dụ: Hai bài nộp cùng bàn về năm bài báo. Bài yếu hơn dành cho mỗi bài một đoạn tóm tắt và một câu khen. Bài mạnh hơn nhóm chúng lại, chỉ ra ba trong số đó là nghiên cứu tình huống ở một tổ chức đơn lẻ nên hạn chế về khả năng khái quát hoá, rồi nói rõ trong năm nguồn thì mình sẽ thật sự dựa vào nguồn nào cho một quyết định tuyển dụng và vì sao. Bạn thứ hai không đọc nhiều hơn bạn thứ nhất, đúng phán đoán Rousseau và Barends (2011) đặt lên hàng đầu.

Một cấu trúc dùng được cho mỗi nguồn gồm ba bước: nguồn ấy khẳng định điều gì, cơ sở cho khẳng định đó chắc tới đâu, và nó cho phép bạn quyết định được chuyện gì. Nếu bước thứ ba còn trống thì nguồn đó chưa được đánh giá, theo đúng khung Rousseau và Barends (2011) mô tả cho quản trị nhân lực dựa trên bằng chứng.


Infographic chiếm 40%, và nó không phải bài thiết kế

Trả lời trực tiếp: Ở MGMT1007 tại Macquarie University, đây là một bài chuyển ngữ chứ không phải bài dựng hình. Đề bài yêu cầu biến lý thuyết và bằng chứng nhân sự thành thứ mà một bên liên quan trong doanh nghiệp dùng được, nghĩa là điểm nằm ở chỗ các ý có còn nguyên vẹn sau khi bị nén lại hay không, chứ không nằm ở chỗ bố cục có đẹp hay không.

Bằng chứng: Handbook đặt bài này trong khung cách người làm nhân sự truyền đạt chính sách và sáng kiến, và nó nằm dưới chuẩn đầu ra về giải thích và phân tích mối liên hệ giữa quản trị nhân lực với các quy trình của tổ chức. Một sản phẩm bóng bẩy mà chỉ chuyển tải một định nghĩa thì chưa tạo được mối liên hệ ấy. Một sản phẩm giản dị mà cho thấy một chính sách tác động lên một quy trình ra sao thì có.

Ví dụ: Một infographic về an toàn sức khoẻ nơi làm việc dùng hình ảnh mạnh để trình bày định nghĩa pháp lý cùng một loạt số liệu. Nó chính xác và nó đẹp. Bản mạnh hơn lấy đúng một ý, rằng việc báo cáo nguy cơ sẽ thất bại khi quy trình báo cáo chậm hơn cách người ta lách qua nguy cơ đó, rồi dùng cả không gian để trình bày cơ chế ấy. Bản thứ hai truyền đạt được một điều mà người quản lý có thể hành động theo, đúng chuẩn Macquarie Business School đặt cho bài trình bày.

Trước khi mở bất kỳ công cụ thiết kế nào, hãy viết ra đúng một câu mà người xem phải nhắc lại được sau khi xem xong. Nếu bạn không viết ra được câu đó thì không bố cục nào bù được, đúng chuẩn đầu ra Macquarie Business School đặt cho bài trình bày này.


Bài tự nhìn lại không thể viết ngược lại từ đầu

Trả lời trực tiếp: Bài này yêu cầu bạn xem xét mức độ tham gia và đóng góp của mình trong tutorial rồi nối chúng với kỳ vọng nghề nghiệp về tinh thần trách nhiệm và sự tham gia. Nó chiếm 30%, và khác hai bài kia, nguyên liệu thô của nó phải được tạo ra từ nhiều tuần trước, đúng thể loại Ryan (2011) mô tả là viết phản tư.

Bằng chứng: Viết phản tư là một thể loại có yêu cầu riêng và cần được dạy, chứ không phải một bài kể tự do. Ryan (2011), công bố trên Teaching in Higher Education, lập luận rằng sinh viên cần một hệ ngôn ngữ tường minh để phản tư, và chỗ khó thường không nằm ở sự trung thực mà nằm ở bước chuyển từ thuật lại một trải nghiệm sang lập luận về nó rồi nối nó vào một khung rộng hơn. Một bài chỉ kể lại chuyện đã xảy ra là mới làm bước đầu trong ba bước mà Ryan (2011) mô tả.

Ví dụ: Một bạn đi đủ mọi buổi tutorial nhưng hiếm khi phát biểu đã viết bài thừa nhận điều đó và hứa sẽ cải thiện. Đó là kể chuyện cộng một lời hứa. Bản mạnh hơn chỉ ra một buổi cụ thể khi bạn ấy không đồng tình với cách cả nhóm hiểu một tài liệu mà lại không nói ra, xem xét vì sao mình im, rồi nối chuyện đó với cái giá nghề nghiệp của việc bất đồng trong im lặng ở vị trí nhân sự. Bạn ấy không tham gia nhiều hơn bạn thứ nhất. Bạn ấy lập luận được trên cùng một nguyên liệu.

Hãy giữ một ghi chú ngắn sau mỗi buổi tutorial, ghi lại một điều bạn đã đóng góp hoặc đã giữ lại không nói, kèm lý do. Mười dòng mỗi tuần làm bài đánh giá này trở nên nhẹ nhàng, còn thiếu nó thì bài sẽ khó hơn hẳn, đúng cảnh báo Ryan (2011) đưa ra về bước chuyển từ kể sang lập luận.


Sáu việc đáng làm ở môn này

  1. Phân bổ công sức theo trọng số, không theo mức độ quen thuộc, đúng tỉ lệ Macquarie University công bố cho ba bài. Infographic là cấu phần đơn lẻ lớn nhất.
  2. Coi buổi tutorial là buổi có chấm điểm, bởi qua bài tự nhìn lại thì trên thực tế nó đúng là như vậy, đúng chuẩn đầu ra ULO3 của Macquarie Business School.
  3. Giữ nhật ký tutorial ngay từ tuần đầu, đúng khuyến nghị Ryan (2011) đưa ra cho viết phản tư. Đây là bài duy nhất bạn không thể dựng lại từ con số không vào phút chót.
  4. Với mỗi nguồn, hãy kết lại bằng việc nguồn đó cho phép bạn quyết định chuyện gì, đúng khung Rousseau và Barends (2011) mô tả. Đánh giá kết thúc ở một phán đoán, không kết thúc ở một bản tóm tắt.
  5. Viết ra câu thông điệp duy nhất của infographic trước khi thiết kế bất cứ thứ gì, đúng yêu cầu Macquarie Business School đặt cho bài trình bày.
  6. Tập nói lập luận của mình thành lời trong buổi tutorial. ULO3 gọi tên lập luận bằng lời, và môn học cho bạn một chỗ luyện nó mỗi tuần tại Macquarie University.

Câu hỏi thường gặp

MGMT1007 có thi cuối kỳ không?
Không. Cấu trúc đánh giá năm 2026 gồm bài xử lý vấn đề 30%, bài trình bày 40% và bài tự nhìn lại 30%. Nếu bạn gặp tài liệu nói tới một kỳ thi, hãy kiểm xem nó có cũ hơn thiết kế hiện hành hoặc thuộc về mã HRM107 ngày trước hay không.

MGMT1007 và HRM107 liên quan thế nào?
HRM107 được ghi là môn không tính tín chỉ chồng, nghĩa là nó là mã cũ của cùng khối kiến thức và bạn không được tính cả hai vào bằng của mình.

Môn này có điều kiện tiên quyết không?
Handbook ghi là không, điều này nhất quán với một môn nhập môn bậc 1000. Môn mở ở cả kỳ 1 và kỳ 2, học trực tiếp tại North Ryde hoặc trực tuyến theo lịch cố định ngày thường.

Viết bài phản tư thế nào để không chỉ là kể lại chuyện đã xảy ra?
Phần kể là điểm xuất phát chứ không phải câu trả lời. Hãy đi từ chuyện gì đã xảy ra, sang vì sao nó xảy ra và nó cho thấy điều gì, rồi tới chuyện điều đó có ý nghĩa gì với thực hành nghề nghiệp. Một bài dừng ở chặng đầu là chưa đạt yêu cầu của đề.

Làm infographic có cần kỹ năng thiết kế chuyên nghiệp không?
Bài đánh giá này nói về việc chuyển lý thuyết và bằng chứng cho một người đọc trong môi trường làm việc, không nói về độ tinh xảo thị giác. Thứ gánh điểm là sự rõ ràng của ý bên dưới, và một bố cục giản dị truyền đạt tốt một cơ chế sẽ hơn một bố cục phức tạp chỉ trình bày các định nghĩa.


MAAS đứng ở đâu trong việc này

Chuyên gia MAAS làm việc cùng sinh viên ở những môn như thế này, chứ không làm thay. Ở một môn thay bài luận quen thuộc bằng đánh giá nguồn, chuyển ngữ trực quan và viết phản tư, việc hữu ích mà người đồng hành làm được là giúp bạn nhìn ra từng định dạng thật sự đang kiểm tra điều gì, để công sức rơi đúng chỗ có điểm thay vì rơi vào chỗ bạn quen tay. Bài làm vẫn là của bạn, dù bạn học MGMT1007 tại Macquarie University, Macquarie Business School, hay tại bất kỳ trường nào khác ở New South Wales. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ học thuậtdịch vụ gia sư của MAAS là hai chỗ để bắt đầu.


References

Rousseau, D. M., & Barends, E. G. R. (2011). Becoming an evidence-based HR practitioner. Human Resource Management Journal, 21(3), 221–235. https://doi.org/10.1111/j.1748-8583.2011.00173.x

Ryan, M. (2011). Improving reflective writing in higher education: A social semiotic perspective. Teaching in Higher Education, 16(1), 99–111. https://doi.org/10.1080/13562517.2010.507311

Tools & resources

Macquarie University. (2026). MGMT1007: Introduction to Human Resource Management. https://coursehandbook.mq.edu.au/2026/units/MGMT1007

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.