Skip to content
Quay lại BlogGeneral

LAWS403: môn luật không có quy tắc nào để áp vào

13 phút đọc2,582 từ

Mọi môn khác trong chương trình luật đều dạy bạn tìm ra quy tắc rồi áp nó vào dữ kiện. Môn Legal Theory lấy đi phần quy tắc.

Mọi môn khác trong chương trình luật đều dạy bạn tìm ra quy tắc rồi áp nó vào dữ kiện. Môn Legal Theory lấy đi phần quy tắc. Nó hỏi luật là gì, thẩm quyền của luật đến từ đâu, và một đạo luật bất công thì có còn là luật hay không, mà lại không đưa cho bạn một đáp án nào để tra. Sinh viên đã ba năm rèn giỏi việc áp quy tắc thường viết ra bài luận yếu nhất của mình ở đây, không phải vì tài liệu khó hơn, mà vì kỹ năng đang được chấm là một kỹ năng khác. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như thế.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi chuyên gia Luật cấp cao (Tiến sĩ, Luật)
Cập nhật: 12/08/2026
Chuyên mục: writing-tips


Môn này là gì, và nó nằm ở đâu trong chương trình?

Trả lời thẳng: Tại Australian Catholic University, LAWS403 là môn Legal Theory, 10 tín chỉ bậc 4, thuộc nhóm môn bắt buộc chuyên ngành trong chương trình Cử nhân Luật, với môn tiên quyết là LAWS104 Foundations of Law and Legal Research. Lịch học ba giờ mỗi tuần trong mười hai tuần hoặc tương đương, tổ chức theo hình thức tập trung, theo tuần hoặc trực tuyến, và sinh viên được kỳ vọng dành tổng cộng 150 giờ cho môn.

Bằng chứng: Mô tả được công bố ghi rằng môn học khảo sát bản chất chung và ý nghĩa của luật, cùng với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý, bao quát công trình của các nhà lý thuyết kinh điển và những trường phái tư tưởng khác nhau. Các chủ đề được liệt kê gồm bản chất và tính liên quan của triết học pháp luật, ý nghĩa của luật, luật tự nhiên, chủ nghĩa thực chứng pháp lý, chủ nghĩa hiện thực pháp lý, lý thuyết pháp lý phê phán, lý thuyết pháp lý nữ quyền, và luật cùng đạo đức và quyền.

Ví dụ: Một bạn học tốt môn Torts và Contract cứ đinh ninh Legal Theory sẽ nhẹ hơn vì không có án lệ nào phải nhớ. Khối lượng đọc thì đúng là ít hơn, còn phần viết lại khó hơn, và đó là nếp thường gặp.


Thật ra môn này chấm cái gì?

Trả lời thẳng: Chấm ba thứ với những đòi hỏi rất khác nhau. ACU công bố phần hoạt động theo bài học chạy suốt tuần 2 tới tuần 11 chiếm 20%, một bài luận ngắn về các chủ đề đầu kỳ, và một bài luận nghiên cứu chiếm 50%.

Bằng chứng: Hãy đọc kỹ từng phần nói nó tồn tại để làm gì. Hoạt động theo bài học có mục đích củng cố kiến thức về lý thuyết pháp luật. Bài luận ngắn đánh giá khả năng đọc hiểu tài liệu lý thuyết và khả năng viết theo hình thức luận văn. Còn bài luận nghiên cứu được mô tả là nhằm phát triển kỹ năng nghiên cứu, kiến thức về lý thuyết pháp luật, và khả năng vận dụng lý thuyết pháp luật vào một vấn đề pháp lý, trong đó việc chấm bao gồm phần nghiên cứu, mức độ hiểu, khả năng vận dụng lý thuyết một cách sáng tạo và phê phán, cùng kỹ năng truyền đạt.

Vế cuối mới là thứ bạn cần lấy làm trục khi lên kế hoạch cho cả môn. Một nửa số điểm của môn nằm ở một bài mà việc vận dụng lý thuyết vào một vấn đề được nêu đích danh, và hai chữ định tính đi kèm là sáng tạophê phán.

Ví dụ: Một bạn viết bài luận nghiên cứu khảo sát luật tự nhiên, chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa hiện thực rất chính xác trong 2.500 chữ, rồi kết luận rằng mỗi trường phái đều có điểm mạnh và điểm yếu. Từng câu đều bảo vệ được. Nhưng không có chỗ nào trong đó vận dụng một lý thuyết vào bất cứ điều gì, mà đó lại đúng là thứ đề bài nói nó đang chấm.


Vì sao một bài luận kiểu khảo sát lại được điểm thấp?

Bài luận làm gì Người chấm đọc ra điều gì Đề bài đòi gì
Mô tả lần lượt từng trường phái Đọc hiểu Vận dụng
So sánh các trường phái ở mức trừu tượng Đọc hiểu có tổ chức Vận dụng vào một vấn đề
Vận dụng một lý thuyết vào một tình huống pháp lý Phân tích Gần hơn rồi
Vận dụng một lý thuyết rồi thử nó trước cách đọc đối lập mạnh nhất Vận dụng có phê phán Chính là chỗ này
Đủ những điều trên, kèm việc gọi tên giới hạn của lý thuyết Phê phán thật sự Chính là chỗ này, ở bậc điểm cao nhất

Bằng chứng: Khác biệt nằm ngay ở động từ. Việc nắm được các trường phái tư tưởng là điều kiện cần để làm bài, chứ không phải nội dung của bài. Một bài dừng lại ở mô tả nghĩa là đã hoàn thành phần đọc tài liệu chứ chưa hoàn thành yêu cầu, và đó là lý do nhiều bạn thật lòng thấy môn này thú vị mà điểm vẫn nằm ở khoảng giữa.

Ví dụ: Với câu hỏi liệu công chức trong một hệ thống pháp luật bất công có bị ràng buộc phải tuân theo hay không, một bạn giải thích luật tự nhiên và chủ nghĩa thực chứng rồi để người đọc tự quyết. Một bạn khác chọn hẳn một quan điểm, đi theo chủ nghĩa thực chứng tới tận kết luận của nó, rồi chỉ đúng chỗ mà một nhà lý thuyết luật tự nhiên sẽ nói kết luận ấy trở nên không thể chấp nhận, và vẫn bảo vệ quan điểm của mình.


Nên học kỹ cuộc tranh luận nào?

Trả lời thẳng: Cuộc tranh luận giữa Hart và Fuller. Đó là mẫu rõ ràng nhất cho thứ mà môn này đòi hỏi, bởi cả hai bài đều vận dụng lý thuyết vào cùng một vấn đề cụ thể rồi đi tới hai đáp án khác nhau, và chúng được in liền nhau trong cùng một số của cùng một tạp chí.

Bằng chứng: Hart (1958) bảo vệ lập trường thực chứng về việc phải phân biệt luật đang là với luật đáng lẽ phải là, và lập luận rằng những người phê phán đã lẫn lộn sự phân biệt này với các học thuyết thực chứng khác vốn đáng bị phê phán. Ông thẳng thắn về chỗ mà sự phân biệt ấy bị căng ra, khi thừa nhận rằng ở vùng tranh tối tranh sáng của một quy tắc, nơi chưa rõ một tình huống có rơi vào phạm vi của nó hay không, thì quyết định không thể rút ra bằng suy diễn thuần tuý, và tính đúng đắn của quyết định phải dựa vào một quan niệm nào đó về luật đáng lẽ phải là gì.

Fuller (1958) đáp lại trực diện. Ông diễn đạt lại vấn đề theo cặp trật tự và trật tự tốt, rồi lập luận rằng Hart bỏ qua thứ ông gọi là đạo đức nội tại của luật, tức tập hợp những điều kiện mà thiếu chúng thì một hệ thống quy tắc không thể vận hành như luật được. Hình ảnh minh hoạ của ông là một ông vua chuyên chế ban ra mệnh lệnh nhưng chẳng bao giờ kiểm xem ai đã tuân theo, nên rốt cuộc thường xuyên trừng phạt người trung thành và ban thưởng cho kẻ bất tuân. Ý của Fuller là một người cai trị như vậy không tạo ra nổi luật, kể cả cho mục đích ích kỷ của chính mình, chừng nào chưa chấp nhận một mức tự kiềm chế tối thiểu. Vậy nên luật, xét thuần tuý như trật tự, đã hàm chứa sẵn một thứ đạo đức bên trong nó.

Ví dụ: Một bạn nêu tên cả hai bài trong phần chú thích thì chẳng thu được gì. Một bạn nhận ra rằng Hart đã nhượng bộ ở phần vùng tranh tối tranh sáng và Fuller tấn công đúng vào đó thì đã tìm được khớp nối của cuộc tranh luận, và viết được về một bất đồng thật sự đang diễn ra, thay vì về hai quan điểm nằm cạnh nhau trong một danh sách.


Vận dụng lý thuyết vào một vấn đề pháp lý thế nào mà không thành gượng ép?

Trả lời thẳng: Hãy chọn một vấn đề mà các lý thuyết thật sự bất đồng về kết cục, đừng chọn vấn đề mà chúng tình cờ đồng ý với nhau. Nếu mọi trường phái đều đi tới cùng một kết luận trên dữ kiện của bạn, bài luận sẽ chẳng còn gì để triển khai.

Bằng chứng: Điều này suy ra từ chính thứ mà đề bài tưởng thưởng. Vận dụng sáng tạo và phê phán nghĩa là lý thuyết phải làm được việc gì đó, mà một lý thuyết chẳng làm được việc gì khi đáp án vốn đã hiển nhiên. Những vấn đề mà một quy tắc hợp lệ theo mọi tiêu chí hình thức nhưng vẫn cho ra kết cục người ta thấy không thể chấp nhận chính là loại vấn đề chia rẽ các trường phái, và đó là lý do chúng cứ trở đi trở lại trong tài liệu nghiên cứu.

Ví dụ: Một bạn đem lý thuyết pháp lý nữ quyền áp vào một tranh chấp hợp đồng mà phân tích chẳng thêm được gì, và bài luận khựng lại. Đổi khung sang một chế định tự trình bày mình là trung lập trong khi lại phân bổ gánh nặng không đồng đều, thì cũng chính lý thuyết ấy có hẳn điều để nói.


Còn bối cảnh Công giáo của trường thì sao?

Trả lời thẳng: Luật tự nhiên nằm trong đề cương với tư cách một trường phái tư tưởng, và nó sẽ được dạy nghiêm túc. Đó là một lập trường học thuật có lịch sử lâu đời, không phải một yêu cầu buộc bạn phải theo.

Bằng chứng: Các chủ đề được liệt kê chạy từ luật tự nhiên qua chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hiện thực, lý thuyết pháp lý phê phán tới lý thuyết pháp lý nữ quyền, và đó là trình tự tiêu chuẩn của một môn triết học pháp luật. Phần đánh giá tưởng thưởng cho việc vận dụng có phê phán chứ không tưởng thưởng cho sự tán đồng, và môn học được mô tả là nhằm phát triển khả năng vận dụng các lý thuyết vào những câu hỏi pháp lý.

Ví dụ: Một bạn lo rằng lập luận theo hướng thực chứng sẽ bị đánh giá không hay. Điều đó đã không xảy ra. Thứ thật sự bị đánh giá không hay là lập luận cho bất kỳ quan điểm nào mà không đối diện với phiên bản mạnh nhất của quan điểm đối lập.


Một trình tự làm việc thực tế

  1. Đọc phần mô tả các bài đánh giá trước khi đọc danh mục tài liệu. Chính những động từ trong đó cho bạn biết cần luyện gì.
  2. Học kỹ hai lý thuyết thay vì học lướt sáu lý thuyết. Chiều sâu mới là thứ cho phép bạn vận dụng.
  3. Với mỗi lý thuyết, viết một dòng về việc nó cho rằng luật là gì và một dòng về điều nó không giải thích nổi.
  4. Chọn những vấn đề mà các lý thuyết bất đồng với nhau. Nếu chúng đồng ý, hãy đổi vấn đề.
  5. Đọc trọn vẹn ít nhất một cuộc trao đổi, đừng đọc bản tóm tắt về nó. Hart và Fuller nằm ngay đó và cả hai đều dễ đọc.
  6. Trong bài luận nghiên cứu, hãy gọi tên giới hạn của chính quan điểm bạn bảo vệ. Một nửa số điểm nằm ở bài đòi vận dụng có phê phán, và việc thừa nhận giới hạn chính là thứ làm cho sự vận dụng trở nên có phê phán.

Câu hỏi thường gặp

Em có cần nền triết học mới học được LAWS403 không?
Không cần. Môn tiên quyết là LAWS104, và môn này dạy các lý thuyết từ đầu. Thứ nó mặc định ở bạn là sự sẵn lòng tranh luận về các định nghĩa, thay vì đi tra chúng.

Một bài luận nghiên cứu nên bàn tới bao nhiêu nhà lý thuyết?
Hãy theo đề cương môn của bạn. Theo lệ thường, hai người được phân tích tới nơi tới chốn hơn hẳn năm người được nhắc qua loa, vì tiêu chí chấm tưởng thưởng việc vận dụng, mà bạn không vận dụng nổi một lý thuyết mình mới chỉ tóm tắt.

Lập luận rằng một đạo luật bất công vẫn là luật thì có được chấp nhận không?
Được. Đó là lập trường thực chứng và nó có những người bảo vệ nghiêm túc. Điều quan trọng là bạn có đối diện với phản bác mạnh nhất dành cho nó hay không, thay vì chọn phản bác dễ nhất.

Em dùng các tranh cãi pháp lý đang diễn ra làm vấn đề của mình được không?
Thường là được, và cách đó hay có hiệu quả, miễn là tranh cãi ấy thuộc loại mà các lý thuyết thật sự rẽ hướng khác nhau. Hãy kiểm đề cương xem có giới hạn nào về việc chọn đề tài không.

Môn này khác môn Statutory Interpretation ở chỗ nào?
Statutory Interpretation hỏi làm sao xác định một điều khoản có nghĩa gì bên trong hệ thống. Legal Theory hỏi điều gì làm cho hệ thống ấy là luật ngay từ đầu. Sinh viên đôi khi trả lời câu hỏi thứ nhất trong một bài luận vốn hỏi câu thứ hai.


MAAS đứng ở đâu trong việc này

Chuyên gia MAAS làm việc cùng sinh viên luật, chứ không làm thay. Với triết học pháp luật, buổi làm việc hữu ích nhất thường trôi qua với đúng một câu hỏi đặt lên bản nháp của bạn: lý thuyết này đang làm được việc gì mà một lời mô tả dữ kiện thuần tuý không làm được? Nếu câu trả lời là không việc gì cả, thì bài luận đó là một bài khảo sát khoác áo lập luận, và biết điều đó ở tuần thứ chín vẫn hơn biết sau khi điểm đã trả về. Bài viết vẫn là của bạn. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ học thuậtdịch vụ gia sư của MAAS là hai chỗ để bắt đầu.


References

Fuller, L. L. (1958). Positivism and fidelity to law: A reply to Professor Hart. Harvard Law Review, 71(4), 630–672. https://doi.org/10.2307/1338226

Hart, H. L. A. (1958). Positivism and the separation of law and morals. Harvard Law Review, 71(4), 593–629. https://doi.org/10.2307/1338225

Tools & resources

Australian Catholic University. (2026). LAWS403 Legal Theory, Handbook 2026. https://www.acu.edu.au/handbook/handbook-2026/unit/laws403

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.