Phần lớn sinh viên bước ra khỏi buổi dự toà đầu tiên với bốn trang ghi chép và không có lấy một luận điểm nào. Các bạn đã ghi lại được chuyện gì đã diễn ra. Nhưng bài báo cáo lại đòi các bạn giải thích vì sao chuyện diễn ra ở đó trông bình thường đến vậy, và đó là một nhiệm vụ khác hẳn, một nhiệm vụ mà không bài viết pháp lý nào trước đó rèn cho các bạn.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Chuyên gia MAAS phản biện nội dung
Cập nhật lần cuối: 2026-09-01
Chuyên mục: law
LAWS1021 là môn gì, và nó nằm ở đâu trong chương trình luật của UNSW?
Trả lời trực tiếp: LAWS1021 Crime and the Criminal Process là môn bậc cử nhân trị giá 6 đơn vị tín chỉ tại UNSW Sydney, giới thiệu luật hình sự cùng với quy trình tư pháp hình sự. Môn này vẫn còn trong UNSW Handbook 2026, và nó là môn nền chứ không phải môn tự chọn, nghĩa là những thói quen lập luận bạn xây ở đây sẽ theo bạn sang mọi môn luật hình sự về sau.
Bằng chứng: Môn học ghép hai thứ mà nhiều trường luật vẫn dạy tách rời. Một nửa mang tính học thuyết, bàn về yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần của tội phạm rồi áp chúng vào các tội luật định như tội xâm phạm trật tự công cộng và tội về ma tuý. Nửa còn lại nói về vận hành, tức là cảnh sát, công tố viên và thẩm phán ra những quyết định nào để rốt cuộc hành vi nào mới trở thành một cáo buộc. Phần mô tả môn học công bố công khai nói thẳng nửa thứ hai này, khi ghi rằng việc áp dụng luật hình sự bị định hình bởi và phụ thuộc vào các quyết định của những chủ thể trong hệ thống tư pháp hình sự. Các chủ đề lặp lại được nêu trong thông tin môn học gồm hình sự hoá và hình sự hoá quá mức, cách sử dụng và lạm dụng quyền tuỳ nghi, sự lệ thuộc vào xét xử rút gọn, cùng tình trạng người bản địa và các nhóm dễ tổn thương khác chiếm tỷ lệ quá cao.
Một lưu ý về đánh giá: UNSW nói rõ rằng chi tiết đánh giá có thể thay đổi giữa các lần mở môn, và bản course outline trên Moodle là nguồn duy nhất có thẩm quyền cho học kỳ của bạn. Các bản outline lưu truyền trên những trang chia sẻ tài liệu có mô tả một cấu trúc xoay quanh bài court report, một kỳ thi cuối kỳ và một phần điểm tham gia lớp, nhưng các con số đó đến từ những lần mở môn cũ và không nên đem ra làm căn cứ lập kế hoạch. Hãy tự mở outline của chính bạn trong tuần đầu rồi ghi trọng số và các mốc nộp bài vào chỗ bạn nhìn thấy hằng ngày.
Một cảnh báo về mã môn: LAWS1021 không phải mã riêng của UNSW. University of Sydney cũng dùng mã LAWS1021, và Sydney khai mã này là môn tiên quyết cho môn LAWS2010 Administrative Law của họ. Tài liệu tải từ một trang chia sẻ có thể hoàn toàn chính xác mà vẫn đang mô tả môn của một trường khác, nên hãy xác nhận bộ tài liệu ấy thuộc trường nào trước khi dựa vào nó.
Nên làm gì: hãy coi hai nửa là một môn duy nhất thay vì hai môn. Một bạn chỉ học phần học thuyết và bỏ qua phần quy trình thì có thể định nghĩa được một tội danh mà vẫn không giải thích nổi vì sao 2 người làm cùng một việc lại nhận hai kết cục khác nhau, mà đó chính là phép so sánh môn học yêu cầu bạn thực hiện.
Bài court report thật ra đòi bạn tạo ra cái gì?
Trả lời trực tiếp: Bài court report đòi bạn dùng những gì quan sát được làm bằng chứng cho một luận điểm về cách quy trình hình sự vận hành. Quan sát chỉ là nguyên liệu, còn lập luận mới là thứ được chấm. Một bài kể lại một buổi sáng xét xử theo trình tự thời gian, dù chính xác đến đâu, thì vẫn chưa bắt đầu.
Bằng chứng: Khung tư duy mà phần lớn tài liệu môn học hướng sinh viên tới đến từ cuốn Conviction, nơi McBarnet (1981) lập luận rằng thẩm quyền xét xử rút gọn vận hành dưới cái bà gọi là "ideology of triviality", tức quan niệm coi các vụ ở tầng này là vụn vặt. Luận điểm ở đây là vì các vụ rút gọn bị xem là nhỏ nhặt nên chúng ít bị soi xét, và những bảo đảm tố tụng vốn chiếm trọn hình dung của công chúng về tư pháp hình sự lại mỏng đi đúng ở tầng mà đa số người dân thật sự chạm vào hệ thống. Khung này đến nay vẫn còn giá trị trong học thuật Úc. Quilter và McNamara (2013) viết về hai tội danh họ nghiên cứu rằng dù đây là những tội bị truy tố vào loại nhiều nhất ở Úc, "their legal nature is poorly understood and rarely the subject of judicial scrutiny or academic explanation" (Quilter & McNamara, 2013, tr. 534), tức bản chất pháp lý của chúng ít được hiểu đúng và hiếm khi trở thành đối tượng của sự soi xét tư pháp hay của giải thích học thuật. Hai tác giả nối dài danh sách các tội nhỏ của McBarnet sang tội cư xử xúc phạm và tội dùng lời lẽ xúc phạm theo mục 4 và 4A của Summary Offences Act 1988 (NSW), đồng thời chỉ ra rằng chính quan niệm về sự vụn vặt bao trùm thẩm quyền này là một phần lý do khiến các yếu tố cấu thành của hai tội ấy suốt nhiều thập niên không được toà xem xét kỹ.
Ví dụ: Hai sinh viên cùng dự một danh sách vụ việc. Bạn thứ nhất viết rằng thẩm phán giải quyết 11 vụ trước giờ giải lao buổi sáng, phần lớn dưới 4 phút, rồi kết luận rằng toà làm việc hiệu quả. Bạn thứ hai ghi đúng 11 vụ ấy với đúng khoảng thời gian ấy, rồi đặt câu hỏi một bị cáo cần biết những gì để phản bác một cáo buộc trong 4 phút, và trả lời câu đó bằng chính các yếu tố cấu thành tội danh bạn đã học ở nửa học thuyết của môn. Chỉ bạn thứ hai mới có một bài báo cáo.
| Bài court report yếu thường làm gì | Điều thang điểm cao nhất tưởng thưởng |
|---|---|
| Kể lại buổi sáng theo thứ tự | Chọn ra 2 hoặc 3 khoảnh khắc gánh được lập luận |
| Mô tả thái độ của thẩm phán | Chỉ ra điểm ra quyết định và ai nắm quyền ở đó |
| Nhận xét quy trình nhanh hay chậm | Hỏi tốc độ ấy đánh đổi bằng cái gì, và ai chịu |
| Trích nguyên văn điều luật | Áp các yếu tố cấu thành vào thứ thật sự được chứng minh |
| Kết luận rằng hệ thống cần cải cách | Gọi tên đúng thực hành đó và đúng phương án thay thế |
Vì sao khối lượng vụ việc rút gọn lại quan trọng với lập luận của bạn?
Trả lời trực tiếp: Bởi lập luận chỉ đứng vững khi bạn chứng minh được thứ mình chứng kiến là điển hình chứ không phải một buổi sáng bất thường. Các con số đã công bố cho phép bạn làm điều đó, và một bài neo quan sát vào một mẫu hình có tài liệu đọc lên khác hẳn một bài khái quát hoá từ đúng một lần đi dự.
Bằng chứng: Quilter và McNamara (2013) đã dựng ra bức tranh quy mô ở New South Wales. Trong năm 2012, có 5.612 cáo buộc về hành vi xúc phạm và lời lẽ xúc phạm được giải quyết dứt điểm tại Local Court của NSW, và thêm 6.808 người bị phát Criminal Infringement Notice vì bị cho là vi phạm cùng 2 điều luật ấy, nghĩa là 2 tội danh này được thực thi hơn 12.000 lần chỉ trong một năm. Cũng năm đó, hơn 14.000 cáo buộc về trật tự công cộng được giải quyết tại Local Court, trong đó 1.830 vụ là lời lẽ xúc phạm và 3.782 vụ là hành vi xúc phạm, cộng lại xấp xỉ 40 phần trăm toàn bộ khối lượng vụ trật tự công cộng. Điều hai tác giả phàn nàn nằm ở chỗ với những tội bị thực thi ở quy mô như vậy mà vẫn không rõ yếu tố cấu thành của tội là gì, và Toà Tối cao NSW chưa từng đưa ra hướng dẫn đầy đủ nào cho mục 4 và 4A.
Bằng chứng về cách quyền lực ấy được sử dụng: Trollip, McNamara và Gibbon (2019) nghiên cứu cách cảnh sát vận dụng mục 4A tại 3 Local Area Command ở Sydney trong năm 2016 và ghi nhận rằng luật về lời lẽ xúc phạm trên thực tế thường vận hành như một quyền lực cảnh sát để kiểm soát những người có hành vi bị coi là gây phiền, và để thi thố quyền lực với những người tỏ ra không phục tùng thẩm quyền của cảnh sát. Phát hiện này là món quà cho một bài court report, vì nó biến một cảm nhận rằng việc thực thi trông có vẻ tuỳ nghi thành một khẳng định có tài liệu và trích dẫn được.
Nên làm gì: chọn đúng một nhóm tội danh, tìm đúng một con số đã công bố cho nhóm đó, rồi dựng cả bài quanh khoảng cách giữa con số ấy và thứ bạn đã tận mắt xem. Một con số dùng chính xác có giá trị hơn hẳn 6 con số dùng để trang trí.
Viết về tình trạng chiếm tỷ lệ quá cao thế nào để không rơi vào khẳng định suông?
Trả lời trực tiếp: Hãy nêu thước đo, nêu năm, và nói rõ con số ấy là tỷ lệ của cái gì. Đây là chủ đề người chấm thấy sinh viên xử lý tệ nhất, thường vì các bạn khẳng định hệ thống phân biệt đối xử mà không bao giờ chỉ ra phép so sánh nào chứng minh được điều đó.
Bằng chứng: Australian Law Reform Commission (2017) ghi nhận trong cuộc điều tra Pathways to Justice rằng dù người trưởng thành thuộc cộng đồng Aboriginal và Torres Strait Islander chỉ chiếm khoảng 2 phần trăm dân số toàn quốc, họ lại chiếm 27 phần trăm dân số nhà tù toàn quốc, và trong năm 2016 cứ 1.000 người thuộc cộng đồng này thì có khoảng 20 người đang bị giam giữ. Báo cáo cũng lần theo cách tình trạng chiếm tỷ lệ quá cao dồn tích qua từng chặng của quy trình thay vì xuất hiện cùng lúc: năm 2016 người thuộc cộng đồng này có khả năng bị buộc tội và phải ra toà cao gấp 7 lần người không phải bản địa, khả năng bị tạm giam chờ xét xử hoặc chờ tuyên án cao gấp 11 lần, và khả năng nhận hình phạt tù cao gấp 12,5 lần, còn riêng phụ nữ thuộc cộng đồng này có khả năng ở tù cao gấp 21,2 lần phụ nữ không phải bản địa. Tỷ lệ giam giữ tăng 41 phần trăm trong giai đoạn 2006 tới 2016, và 76 phần trăm tù nhân thuộc cộng đồng này từng ở tù trước đó. Cuộc điều tra đưa ra 35 khuyến nghị và phản ánh pháp luật tính tới ngày 1 tháng 12 năm 2017.
Chính phần dồn tích qua từng chặng mới là chỗ có giá trị phân tích. Cách đọc theo chặng này cho bạn biết rằng một bài court report tập trung vào bảo lãnh, hoặc vào tạm giam, là đang xem xét đúng điểm mà khoảng cách nới rộng ra, và đó là chỗ đứng vững hơn hẳn một câu nhận định chung về cả hệ thống. Bản báo cáo còn nhấn một điều kiện đáng mang theo vào bài viết của bạn, rằng đa số người thuộc cộng đồng Aboriginal và Torres Strait Islander không bao giờ phạm tội, cho nên một khẳng định về tỷ lệ không phải là một khẳng định về con người.
Nên làm gì: hãy viết câu theo thứ tự thước đo, năm, phép so sánh. Câu "năm 2016, người thuộc cộng đồng Aboriginal và Torres Strait Islander có khả năng bị tạm giam cao gấp 11 lần người không phải bản địa (Australian Law Reform Commission, 2017)" làm được việc mà câu "người bản địa bị cảnh sát nhắm quá mức" không làm được.
Kỳ thi cuối kỳ khác bài báo cáo ở chỗ nào?
Trả lời trực tiếp: Kỳ thi kiểm tra khả năng áp dụng dưới sức ép thời gian, tức là bạn phải đi lại giữa một tình huống dữ kiện và các yếu tố cấu thành tội danh, rồi đánh giá chính quy tắc mình vừa áp dụng. Bài báo cáo thưởng cho chiều sâu trên một tình huống đã quan sát, còn kỳ thi thưởng cho tốc độ và độ phủ trên những tình huống bạn chưa từng gặp.
Bằng chứng: Chuẩn đầu ra công bố của môn yêu cầu sinh viên vận dụng được cả luật hình sự thông luật lẫn luật hình sự luật định, truyền đạt được các khái niệm pháp lý một cách hiệu quả, và đưa được nghiên cứu pháp lý phù hợp vào bài, nghĩa là một câu trả lời dừng ở chỗ nêu đúng quy tắc mới chỉ thoả mãn một phần thang chấm. Bản thân điều luật cho thấy rõ điều này. Mục 4 của Summary Offences Act 1988 (NSW) quy định rằng một người không được cư xử theo cách xúc phạm tại nơi công cộng hoặc trường học, hoặc gần đó, hoặc trong tầm nhìn và tầm nghe từ đó, với mức phạt tối đa 6 đơn vị phạt hoặc 3 tháng tù, còn mục 4A điều chỉnh hành vi dùng lời lẽ xúc phạm với mức tối đa 6 đơn vị phạt. Cả hai mục đều dành một căn cứ bào chữa khi bị cáo chứng minh được với toà rằng mình có lý do chính đáng. Theo mục 4A, toà có thể tuyên lao động công ích thay cho phạt tiền, tối đa 100 giờ. Quilter và McNamara (2013) dựng phân tích của họ về các yếu tố cấu thành ấy trên cách tiếp cận của Toà Tối cao Liên bang trong vụ He Kaw Teh v The Queen, và đó chính là phương pháp môn học kỳ vọng bạn dùng khi một đạo luật không tự nêu yếu tố lỗi của nó.
Nên làm gì: hãy luyện trên đúng những tội danh môn học đưa ra thay vì trên các câu hỏi tình huống chung chung. Trước khi bước vào kỳ ôn thi, hãy viết ra yếu tố vật chất và yếu tố lỗi của 3 tội danh được giao vào một bảng, và với từng tội thì ghi chú xem yếu tố lỗi là được nêu rõ, được suy ra, hay còn đang tranh cãi. Cái bảng đó là xương sống cho mọi câu trả lời tình huống bạn sẽ viết.
Điều gì phân tách một bài credit với một bài distinction?
Trả lời trực tiếp: Thứ phân tách hai mức điểm này là sự sẵn lòng phản biện chính lập trường của mình. Những bạn chạm được thang điểm cao nhất không chỉ phê phán quy trình hình sự, mà còn nêu ra lập luận mạnh nhất bênh vực cái thực hành mình đang phê phán, rồi giải thích vì sao lập luận ấy vẫn thất bại trước bằng chứng các bạn có.
Bằng chứng: Môn học được dựng trên một sự giằng co chứ không dựng trên một kết luận. McNamara và Quilter (2014) đặt thẳng câu hỏi chính sách nền tảng, rằng ở Úc liệu còn chỗ nào cho những đạo luật hình sự hoá hành vi hay lời nói nơi công cộng bị coi là xúc phạm hay không, và ghi nhận rằng một báo cáo của NSW Law Reform Commission đã tập hợp được bằng chứng thuyết phục nghiêng về câu trả lời là không, dù rốt cuộc vẫn dừng lại trước khi chính thức kết luận như vậy. Một bạn chỉ chép lại phía phê phán thì mới nêu một lập trường, còn một bạn giải thích được vì sao các tội danh ấy vẫn tồn tại, rằng chúng tiện cho việc hành chính, rằng chúng chủ yếu được thực thi bằng giấy phạt chứ không bằng cáo buộc, và rằng một cuộc rà soát đã dừng lại trước khi kiến nghị bãi bỏ, thì mới tạo ra phân tích. Bản rà soát của NSW Ombudsman về 9 tháng đầu vận hành toàn bang của cơ chế Criminal Infringement Notice, từ tháng 11 năm 2007 tới tháng 7 năm 2008, cho thấy 70 phần trăm số giấy phạt phát ra trong giai đoạn ấy là vì hành vi xúc phạm hoặc lời lẽ xúc phạm, con số do Quilter và McNamara (2013) dẫn lại, và đó đúng là loại chi tiết cho phép bạn lập luận cả hai phía từ cùng một dữ kiện.
Nên làm gì: trong mỗi đoạn quan trọng, hãy viết một câu bắt đầu bằng "phản biện mạnh nhất cho điều này là". Nếu bạn không hoàn thành nổi câu đó, nghĩa là bạn chưa hiểu thực hành ấy đủ sâu để phê phán nó.
MAAS đồng hành với sinh viên LAWS1021 thế nào
Chuyên gia MAAS làm việc cùng sinh viên trên phần lập luận, không làm thay bài nộp. Với bài court report, việc đó thường gồm một buổi trao đổi trước khi bạn đi dự toà để biết cần để mắt tới những điểm ra quyết định nào, và một buổi sau đó để cùng bàn xem quan sát nào của bạn gánh được lập luận và quan sát nào mới chỉ là mô tả. Với phần ôn thi, việc đó gồm cùng bạn đi qua các tình huống và truy vào đúng chỗ lập luận của bạn mỏng đi. Bạn tự viết bài của mình, chuyên gia giúp bạn nhìn ra thang chấm đang hỏi điều gì. Nếu bạn muốn trao đổi về chỗ mình đang mắc, liên hệ với MAAS.
Câu hỏi thường gặp
LAWS1021 có phải môn tiên quyết cho các môn luật hình sự sau này ở UNSW không?
Có. LAWS1021 là môn nền mà việc học luật hình sự về sau tại UNSW xây tiếp lên, nên vốn thuật ngữ học thuyết và cách nhìn về quy trình bạn học ở đây sẽ được mặc định là đã biết. Hãy coi nó là giàn giáo chứ không phải một môn học qua rồi quên.
Tìm trọng số đánh giá thật cho học kỳ của mình ở đâu?
Trong course outline trên Moodle của bạn. UNSW nói rõ chi tiết đánh giá có thể thay đổi mỗi lần mở môn, nên các con số đăng trên trang chia sẻ tài liệu hay trong outline lưu trữ của những năm trước đều không đáng tin để lập kế hoạch. Hãy đọc outline trong tuần đầu và tự ghi lại trọng số cùng hạn nộp.
Có cần kinh nghiệm pháp lý trước thì mới viết được court report không?
Không, và bài đánh giá được thiết kế trên giả định đó. Thứ bạn cần là một khung để quan sát. Hãy đọc phần tài liệu về quy trình trước khi đi dự chứ đừng đọc sau, vì khác biệt giữa một buổi sáng có ích và một buổi sáng phí hoài nằm ở chỗ biết trước cần theo dõi những quyết định nào.
Một bài court report năm nhất nên trích bao nhiêu nguồn?
Ít hơn phần lớn sinh viên tưởng, nhưng dùng kỹ hơn. Một bài neo vào 3 hoặc 4 nguồn mà mỗi nguồn đều làm một việc nhận ra được sẽ ăn điểm cao hơn một bài liệt kê 12 nguồn trong thư mục tham khảo mà không nguồn nào được bàn tới trong thân bài.
Tôi viết về một vụ chỉ đọc qua tài liệu thay vì trực tiếp dự được không?
Không được với bài court report, vì bài này đang kiểm tra khả năng quan sát và diễn giải quan sát. Nếu bạn có lý do chính đáng khiến không thể tới dự, hãy nêu sớm với giảng viên phụ trách môn thay vì tự ý thay việc dự toà bằng việc đọc tài liệu.
References
Australian Law Reform Commission. (2017). Pathways to justice: Inquiry into the incarceration rate of Aboriginal and Torres Strait Islander peoples (Final Report No. 133). https://www.alrc.gov.au/publication/pathways-to-justice-inquiry-into-the-incarceration-rate-of-aboriginal-and-torres-strait-islander-peoples-alrc-report-133/
McBarnet, D. J. (1981). Conviction: Law, the state and the construction of justice. Macmillan.
McNamara, L., & Quilter, J. (2014). Turning the spotlight on 'offensiveness' as a basis for criminal liability. Alternative Law Journal, 39(1), 36-39. https://doi.org/10.1177/1037969X1403900110
Quilter, J., & McNamara, L. (2013). Time to define 'the cornerstone of public order legislation': The elements of offensive conduct and language under the Summary Offences Act 1988 (NSW). UNSW Law Journal, 36(2), 534-562. https://www.austlii.edu.au/au/journals/UNSWLJ/2013/20.html
Trollip, H., McNamara, L., & Gibbon, H. (2019). The factors associated with the policing of offensive language: A qualitative study of three Sydney Local Area Commands. Current Issues in Criminal Justice, 31(4), 493-512. https://doi.org/10.1080/10345329.2019.1639591
