Phần phương pháp của một bài báo nghiên cứu giải thích bạn đã làm gì và vì sao, chi tiết tới mức một nhà nghiên cứu khác có thể tái lập nghiên cứu của bạn. Với nhà nghiên cứu và sinh viên Việt Nam, đây là phần mà người phản biện soi trước tiên trong một bản thảo nhắm tới Scopus, vì phương pháp yếu sẽ nhấn chìm một nghiên cứu vốn lành lặn từ trước khi ai kịp đọc tới phần kết quả.
Cẩm nang này trả lời bảy câu hỏi mà nhà nghiên cứu Việt Nam hay hỏi cố vấn công bố của MAAS nhất ở chặng viết phương pháp.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-06-27
Chuyên mục: research-methods

Phần phương pháp là gì, và nó thật sự để làm gì?
Trả lời trực tiếp: Phần phương pháp mô tả những gì bạn đã làm để trả lời câu hỏi nghiên cứu, gồm thiết kế, người tham gia hoặc vật liệu, cách bạn thu thập dữ liệu, và cách phân tích chúng. Việc của nó là để người đọc phán được kết luận của bạn có giá trị hay không, và để nhà nghiên cứu khác tái lập được nó. Nó báo cáo quy trình, không báo cáo kết quả.
Bằng chứng: Một phần phương pháp giàu thông tin cho phép người đọc hiểu các thí nghiệm được tiến hành ra sao và vì sao, tái lập nghiên cứu với kỳ vọng thành công, và chấp nhận rằng kết luận là có giá trị xét theo thiết kế đó (Annesley, 2010, trang 897 đến 901). Phần phương pháp của một nghiên cứu định lượng gốc dựa trên bốn thành phần cơ bản, gồm thiết kế nghiên cứu, bối cảnh và đối tượng, thu thập dữ liệu, và phân tích dữ liệu, cộng thêm một tuyên bố về đạo đức nghiên cứu (Kotz & Cals, 2013).
Ví dụ: Một tác giả người Việt lần đầu viết bài mang tới cho cố vấn MAAS một phần phương pháp đầy những con số chị đã quan sát được. Cố vấn tách hai thứ ra, để phần phương pháp mô tả quy trình còn các con số chuyển sang phần kết quả, và một người phản biện từng nghi ngờ mức chặt chẽ của chị đã chấp nhận bản sửa.
Nên cấu trúc phần phương pháp như thế nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy theo một trật tự cố định, dễ đoán, gồm thiết kế, bối cảnh và người tham gia hoặc vật liệu, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, khép lại bằng phê duyệt đạo đức và sự đồng ý. Dùng tiểu mục cho từng khối. Người phản biện phải ánh xạ mỗi phương pháp sang đúng một kết quả, nên hãy mô tả mọi thứ bạn báo cáo về sau, và không gì khác.
Bằng chứng: Phần phương pháp của một bài định lượng được dựng từ thiết kế nghiên cứu, bối cảnh và đối tượng, thu thập dữ liệu, và phân tích dữ liệu, đồng thời phải báo cáo phê duyệt đạo đức cùng sự đồng ý sau khi được thông tin ở những nghiên cứu có người tham gia (Kotz & Cals, 2013). Với mỗi mô tả về việc bạn đã làm gì thì phải có một mô tả tương ứng về việc bạn tìm thấy gì, để người phản biện ánh xạ được từng phương pháp sang một kết quả khớp với nó (Annesley, 2010).
| Thành phần của phương pháp | Nó báo cáo điều gì | Lỗi thường gặp |
|---|---|---|
| Thiết kế nghiên cứu | Loại hình nghiên cứu và lý do chọn nó | Gọi tên một thiết kế mà không biện minh |
| Bối cảnh và người tham gia | Ở đâu, khi nào, ai, và tiêu chí đủ điều kiện | Tiêu chí lựa chọn mơ hồ hoặc thiếu hẳn |
| Thu thập dữ liệu | Công cụ, thước đo, và quy trình | Mô tả công cụ quá sơ sài để tái lập |
| Phân tích dữ liệu | Kiểm định, mô hình, và phần mềm | Liệt kê kiểm định mà không nối với giả thuyết |
| Đạo đức nghiên cứu | Cơ quan phê duyệt, số hồ sơ, sự đồng ý | Bỏ sót phê duyệt cho nghiên cứu trên người |
Ví dụ: Một học viên cao học được MAAS đồng hành đã gộp phần lấy mẫu, công cụ và thống kê vào một đoạn văn dày đặc. Cố vấn tách phần đó thành các tiểu mục có nhãn theo trật tự bên trên, và cùng một nội dung ấy đọc lên như một quy trình kiểm toán được mà người phản biện có thể đối chiếu.
Chi tiết tới đâu là đủ cho phần phương pháp?
Trả lời trực tiếp: Đủ để một nhà nghiên cứu có năng lực trong ngành bạn lặp lại được nghiên cứu và chờ cùng một loại kết quả. Hãy nêu rõ ai, cái gì, khi nào, ở đâu, ra sao và vì sao cho từng quy trình. Nếu một chi tiết có thể đổi chuyện nghiên cứu có tái lập được hay không, chẳng hạn liều lượng, cửa sổ lấy mẫu, tham số mô hình, hãy đưa vào.
Bằng chứng: Một phần phương pháp thành công giống một công thức nấu ăn, vì nó gộp lại việc gì đã được làm, khi nào, ở đâu, ai làm, và vì sao, để người đọc hiểu được và lặp lại được công việc đó (Annesley, 2010). Các bộ hướng dẫn báo cáo tồn tại chính vì phương pháp tái lập được cần những mục đã gọi tên và kiểm được, chẳng hạn STROBE đòi các nghiên cứu quan sát phải nêu tiêu chí đủ điều kiện, nguồn dữ liệu, và cách các biến số được đo (von Elm và cộng sự, 2007).
Ví dụ: Một nhà nghiên cứu người Việt nhắm tới một tạp chí Q2 chỉ viết rằng chị đã "dùng một khảo sát". Cố vấn MAAS giúp chị bổ sung nguồn gốc của công cụ, số lượng mục hỏi, thang trả lời, cửa sổ lấy mẫu, và tỷ lệ phản hồi, đúng những chi tiết mà người phản biện cần để tái lập công việc.
Phần phương pháp nên dùng thì, ngôi và lối viết nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy viết phần phương pháp ở thì quá khứ, vì công việc đã hoàn tất. Hãy mô tả quy trình bằng lời giản dị và theo một trật tự có lô gích. Bạn có thể dùng ngôi thứ nhất và thể chủ động ở nơi tạp chí đích cho phép, vì "we recruited" rõ hơn "subjects were recruited", nhưng nhất quán mới là quan trọng nhất. Hãy giữ câu tiếng Anh đơn giản và trực tiếp.
Bằng chứng: Vì phần phương pháp báo cáo một nghiên cứu đã hoàn tất, nó được viết chủ yếu ở thì quá khứ, và sự rõ ràng có được nhờ mô tả các quy trình theo đúng trật tự chúng đã được tiến hành (Kotz & Cals, 2013). Lối mô tả giản dị theo kiểu công thức nấu ăn truyền đạt một phương pháp đáng tin hơn là lối văn hoa mỹ (Annesley, 2010).
Ví dụ: Một học viên cao học người Việt viết bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai đã đổi qua đổi lại giữa thể bị động và thể chủ động ngay trong một đoạn. Cố vấn MAAS chuẩn hoá phần đó thành các câu chủ động ở thì quá khứ nhất quán, và phần phương pháp đọc lên chính xác thay vì lưỡng lự, điều rất đáng kể khi người phản biện đang phán về năng lực.
Các bộ hướng dẫn báo cáo định hình phần phương pháp ra sao?
Trả lời trực tiếp: Hãy chọn bộ hướng dẫn báo cáo khớp với thiết kế của bạn và viết phần phương pháp theo bảng kiểm đó trước khi nộp. Mỗi bộ cho bạn biết tạp chí chờ đợi những mục phương pháp nào, và đó là cách nhanh nhất tránh bị từ chối tại bàn vì phương pháp. Phần lớn tạp chí Scopus nêu tên bộ hướng dẫn họ yêu cầu ngay trong hướng dẫn cho tác giả.

Bằng chứng: Mỗi thiết kế có bộ hướng dẫn riêng, khi CONSORT dành cho thử nghiệm ngẫu nhiên quy định cách báo cáo phần ngẫu nhiên hoá, làm mù và các kết cục (Schulz và cộng sự, 2010), còn STROBE bao quát nghiên cứu thuần tập, bệnh chứng và cắt ngang (von Elm và cộng sự, 2007). Viết phần phương pháp theo đúng bảng kiểm liên quan bảo đảm mỗi thành phần bắt buộc đều hiện diện và kiểm được (Annesley, 2010).
| Thiết kế nghiên cứu | Bộ hướng dẫn báo cáo | Các mục phương pháp nó chi phối |
|---|---|---|
| Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng | CONSORT | Ngẫu nhiên hoá, làm mù, kết cục |
| Quan sát (thuần tập, bệnh chứng, cắt ngang) | STROBE | Tiêu chí đủ điều kiện, nguồn dữ liệu, biến số |
| Tổng quan hệ thống hoặc phân tích gộp | PRISMA | Tìm kiếm, sàng lọc, trích xuất dữ liệu |
Mỗi bảng kiểm này đều lớn lên qua các lần sửa đổi, và bản thân điều đó đã là một lý do để kiểm xem bạn có đang dùng phiên bản hiện hành hay không. CONSORT công bố lần đầu năm 1996, sửa năm 2001 rồi sửa lại năm 2010, và bản 2010 gồm 25 mục trong bảng kiểm. PRISMA công bố lần đầu năm 2009 và cập nhật năm 2020, và bảng kiểm hiện hành của nó gồm 27 mục. STROBE, trích ở trên là von Elm và cộng sự (2007), vẫn giữ một phiên bản chính kể từ lần công bố năm 2007 đó. Trích một phiên bản bảng kiểm đã lỗi thời là một lỗi nhỏ và tránh được, mà một cố vấn hoặc một lần tra nhanh sẽ bắt được trước khi nộp.
Ví dụ: Một khách hàng dùng dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS đang chuẩn bị một nghiên cứu thuần tập mà chưa từng nghe tới STROBE. Cố vấn dẫn chị đi qua bảng kiểm, và ba mục bị bỏ sót, gồm tiêu chí đủ điều kiện, cách một biến số then chốt được đo, và cách chị xử lý dữ liệu khuyết, đã được đưa vào phần phương pháp trước khi nộp.
Mô tả phân tích thống kê và đạo đức nghiên cứu trong phần phương pháp thế nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy nêu bạn chạy phân tích nào, trên kết cục nào, bằng phần mềm và phiên bản nào, đồng thời định trước phân tích chính để người phản biện thấy nó có kế hoạch chứ không phải chọn sau khi nhìn dữ liệu. Với nghiên cứu có người tham gia, hãy nêu tên hội đồng đạo đức, số phê duyệt, và cách lấy sự đồng ý. Đây là hai khối người phản biện soi kỹ nhất.
Bằng chứng: Thành phần phân tích dữ liệu của phần phương pháp cần mô tả cách tiếp cận thống kê cho từng mục tiêu cùng phần mềm đã dùng, và cả phần này phải báo cáo phê duyệt đạo đức cùng sự đồng ý sau khi được thông tin ở nơi có liên quan (Kotz & Cals, 2013). Các chuẩn mực quốc tế biến điều đó thành điều kiện tiên quyết để công bố, khi "All authors should seek approval to conduct research from an independent local, regional or national review body (e.g., ethics committee, institutional review board)" (International Committee of Medical Journal Editors, n.d.), nghĩa là mọi tác giả phải xin phê duyệt tiến hành nghiên cứu từ một hội đồng thẩm định độc lập ở cấp địa phương, khu vực hoặc quốc gia, để tính liêm chính của nghiên cứu trên người được kiểm chứng.
Ví dụ: Một tác giả người Việt từng viết rằng "dữ liệu đã được phân tích bằng phương pháp thống kê" mà không nói gì về đạo đức nghiên cứu. Cố vấn MAAS giúp chị gọi tên từng kiểm định gắn với mục tiêu mà nó phục vụ, thêm phần mềm cùng phiên bản, rồi chèn số phê duyệt đạo đức và tuyên bố về sự đồng ý, biến một phần mà người phản biện hẳn đã từ chối thành một kế hoạch bảo vệ được.
Lỗi nào ở phần phương pháp làm bài bị từ chối, và tránh chúng bằng cách nào?
Trả lời trực tiếp: Các nguyên nhân lặp lại là quá ít chi tiết để tái lập nghiên cứu, không nối phân tích với giả thuyết, thiếu tuyên bố về đạo đức, một thiết kế không hợp câu hỏi, và báo cáo kết quả ngay trong phần phương pháp. Hãy tránh chúng bằng cách viết theo một hướng dẫn báo cáo, rồi xin phản hồi từ một cố vấn đã thẩm định bản thảo từ phía người phản biện.
Bằng chứng: Phần phương pháp hỏng khi nó bỏ sót các chi tiết kiểm được, tách phân tích khỏi mục tiêu nghiên cứu, hoặc bỏ ngoài phần báo cáo đạo đức bắt buộc (Kotz & Cals, 2013, và International Committee of Medical Journal Editors, n.d.). Khi ngày càng nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam nhắm tới tạp chí Scopus Q1 và Q2, một phần phương pháp đầy đủ và bám sát hướng dẫn là cách rẻ để vượt qua rào phương pháp, thay vì đánh mất một nghiên cứu vốn lành lặn vì những lỗ hổng tránh được.
| Lỗi | Vì sao người phản biện từ chối | Cách sửa |
|---|---|---|
| Quá ít chi tiết | Nghiên cứu không tái lập được | Thêm ai, cái gì, khi nào, ở đâu, ra sao |
| Phân tích không gắn với mục tiêu | Trông như đang mò kết quả | Ánh xạ từng kiểm định vào một giả thuyết |
| Thiếu tuyên bố đạo đức | Tính liêm chính không kiểm chứng được | Nêu hội đồng, số hồ sơ, sự đồng ý |
| Thiết kế không hợp câu hỏi | Làm lung lay mọi phát hiện | Biện minh cho lựa chọn thiết kế |
| Nêu kết quả trong phương pháp | Làm nhoè ranh giới quy trình và phát hiện | Chuyển mọi con số sang phần kết quả |
Ví dụ: Một cố vấn MAAS đồng hành cùng một tác giả người Việt theo mô hình Đề cương, Bản nháp, Bản hoàn thiện, khi bản đề cương cố định trật tự phần phương pháp theo STROBE, bản nháp mô tả từng quy trình ở mức chi tiết tái lập được, và lượt cuối trau chuốt tiếng Anh cho người viết bằng ngôn ngữ thứ hai. Cố vấn tư vấn ở từng chặng, còn tác giả viết suốt quá trình.
Câu hỏi thường gặp
Phần phương pháp nên dài bao nhiêu?
Không có độ dài cố định, nó nên dài đúng bằng mức cần thiết để một nhà nghiên cứu khác tái lập được nghiên cứu. Hãy đưa vào mọi quy trình mà bạn báo cáo về sau, để phần bối cảnh thuộc về phần mở đầu ở lại chỗ của nó, và dùng tiểu mục để phần này dễ di chuyển trong đó.
Phần phương pháp nên viết ở thì quá khứ hay thì hiện tại?
Chủ yếu ở thì quá khứ, vì bạn đang mô tả một nghiên cứu đã hoàn tất. Hãy giữ thì nhất quán và mô tả các quy trình theo đúng trật tự bạn đã tiến hành, vì đó là trật tự dễ nhất để người phản biện đối chiếu với phần kết quả của bạn.
Tôi có thể dùng ngôi thứ nhất trong phần phương pháp không?
Thường là được. Nhiều tạp chí nay chấp nhận "we recruited" hoặc "we measured", và thể chủ động thường rõ hơn thể bị động. Hãy đọc hướng dẫn của tạp chí bạn nhắm tới, rồi áp dụng một lựa chọn nhất quán xuyên suốt cả phần.
Phần methods và phần materials khác nhau ở chỗ nào?
Ở nhiều lĩnh vực, chúng được gộp thành "Materials and Methods". Materials là những thứ bạn đã dùng, gồm công cụ, hoá chất, bộ dữ liệu, còn methods là những gì bạn đã làm với chúng. Dù theo cách nào, hãy mô tả cả hai đủ chi tiết để tái lập được công việc.
Tôi có cần báo cáo phê duyệt đạo đức trong phần phương pháp không?
Có, với bất kỳ nghiên cứu nào liên quan tới người tham gia, động vật, hoặc dữ liệu định danh được. Hãy nêu tên hội đồng phê duyệt, đưa số hồ sơ, và nói rõ bạn đã lấy sự đồng ý ra sao. Các tạp chí ngày càng từ chối tại bàn những bài nghiên cứu trên người bỏ sót phần này.
MAAS có giúp tôi viết phần phương pháp chắc hơn không?
Có. Cố vấn Công bố của MAAS đồng hành cùng nhà nghiên cứu Việt Nam qua khâu dựng cấu trúc phần phương pháp, chọn đúng bộ hướng dẫn báo cáo, và mô tả phần phân tích cùng đạo đức nghiên cứu cho đúng, theo mô hình đi từng chặng, với phản hồi từ các cố vấn trình độ tiến sĩ. Bạn có thể đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ của chúng tôi.
Sẵn sàng đưa phần phương pháp của bạn lên chuẩn Q1?
Một phần phương pháp chắc chắn cho phép người phản biện tin và tái lập được nghiên cứu của bạn, và điều đó dễ hơn nhiều khi có một người cố vấn đã từng thẩm định bản thảo từ phía bên kia. Cố vấn Công bố của MAAS ghép bạn với một cố vấn trình độ tiến sĩ, trong đó 23% chuyên gia của chúng tôi có bằng tiến sĩ, cho một buổi tư vấn 20 phút miễn phí, ghép đúng người trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã phủ lĩnh vực đó, hoặc khoảng hai tuần nếu MAAS phải mở một đợt tuyển riêng, rồi cùng bạn đặt mục tiêu điểm ba bậc Pass, Merit hoặc Distinction ngay từ đầu cùng 45 ngày hỗ trợ theo dõi sau khi nộp bài. Chúng tôi đồng hành, còn bạn vẫn là tác giả.
Đặt lịch tư vấn Cố vấn Công bố cùng MAAS →
Bài liên quan
- Chọn đúng kiểm định thống kê cho một công bố Q1 bằng cách nào?: phép phân tích mà phần phương pháp của bạn mô tả
- Nên dùng bộ hướng dẫn báo cáo nào cho bài nghiên cứu của bạn?: CONSORT, PRISMA, STROBE
- Dịch vụ Cố vấn Công bố: các bậc dịch vụ cho phần hỗ trợ Scopus Q1 và Q2
- Trang tài nguyên công bố Scopus: các cẩm nang trải khắp hành trình nộp bài
- Gặp gỡ đội ngũ chuyên gia MAAS: những cố vấn trình độ tiến sĩ đứng sau phần cố vấn của chúng tôi
References
- Annesley, T. M. (2010). Who, what, when, where, how, and why: The ingredients in the recipe for a successful methods section. Clinical Chemistry, 56(6), 897–901. https://doi.org/10.1373/clinchem.2010.146589
- International Committee of Medical Journal Editors. (n.d.). Recommendations for the conduct, reporting, editing, and publication of scholarly work in medical journals. Retrieved June 27, 2026, from https://www.icmje.org/recommendations/
- Kotz, D., & Cals, J. W. L. (2013). Effective writing and publishing scientific papers, part IV: Methods. Journal of Clinical Epidemiology, 66(8), 817. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2013.01.003
- Schulz, K. F., Altman, D. G., & Moher, D. (2010). CONSORT 2010 statement: Updated guidelines for reporting parallel group randomised trials. BMJ, 340, c332. https://doi.org/10.1136/bmj.c332
- von Elm, E., Altman, D. G., Egger, M., Pocock, S. J., Gøtzsche, P. C., & Vandenbroucke, J. P. (2007). The Strengthening the Reporting of Observational Studies in Epidemiology (STROBE) statement: Guidelines for reporting observational studies. PLoS Medicine, 4(10), Article e296. https://doi.org/10.1371/journal.pmed.0040296
Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho học viên cao học và nhà nghiên cứu Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. Cố vấn Công bố của MAAS là một đối tác cố vấn, chúng tôi đồng hành cùng tác giả theo mô hình bàn giao đi từng chặng, với phản hồi phát triển từ các cố vấn trình độ tiến sĩ đã công bố trên Scopus. Chúng tôi không viết, không nộp bài, và không bảo đảm bài được chấp nhận thay cho tác giả.
