Skip to content

← Blog

◆ Cố vấn công bố

Cách tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu gồm những bước nào?

+8 câu hỏi+4 hình, trong đó 3 hình tương tác được+Nối với hướng dẫn công bố Scopus+16 phút đọc

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-10-09
Chuyên mục: research-methods

Bạn nhập quy mô quần thể, sai số cho phép và mức tin cậy, rồi trang sẽ cho biết cần khảo sát bao nhiêu người. Muốn xem cách tính thì chỉ cần bấm mở dòng cách tính ngay bên dưới kết quả.

Bạn cần khảo sát bao nhiêu người?

Bạn cần khảo sát ít nhất

385 người

Nếu bạn dự kiến có người không trả lời, hãy lấy con số này chia cho tỷ lệ phản hồi dự kiến để tuyển thêm.

Cách tính con số này

n0 = Z² p q / e²

Cỡ mẫu cơ sở: n0 = 1,96² × 0,5 × 0,5 / 0,05² = 384,16
Làm tròn lên: n = 385

Nguồn: Israel (2009); Bartlett và cộng sự (2001)

Đây là con số để lập kế hoạch, không phải phán quyết cuối. Bạn nên xác nhận lại với giảng viên hướng dẫn hoặc hội đồng đạo đức.

Các phương pháp khác

Yamane, Krejcie và Morgan, giá trị trung bình, so sánh hai nhóm và quy tắc kinh nghiệm cho hồi quy. Phần lớn khảo sát chỉ cần câu trả lời ở phía trên.

333 người tham gia cần phân tích

Nếu làm tròn lên thì được: 334.

Công thức

n = N / (1 + N e²)

Các bước tính

Cỡ mẫu cơ sở: n = 2.000 / (1 + 2.000 × 0,05²) = 333,33
Làm tròn đến số nguyên gần nhất (như nguồn gốc): n = 333

Đọc kỹ trước khi dùng con số này

  • Công thức Yamane mặc định mức tin cậy 95% và p = 0,5. Với phương pháp này, hai ô mức tin cậy và p không có tác dụng.
  • Yamane (1967) được dẫn qua Israel (2009); chúng tôi chưa mở bản gốc.
  • Ví dụ tính tay của Israel (2009) in 333 cho công thức này, nhưng Bảng 2 của chính ông làm tròn lên cùng công thức đó ở nhiều dòng. Giá trị chưa làm tròn là 333,33, nên công cụ này nêu cả hai: 333 khi làm tròn đến số nguyên gần nhất và 334 khi làm tròn lên.

Nguồn: Israel (2009)

Đây là con số để lập kế hoạch, không phải phán quyết cuối. Bạn nên xác nhận lại với giảng viên hướng dẫn hoặc hội đồng đạo đức.

Công cụ này giả định những gì

  • Kết quả của Cochran luôn được làm tròn lên. Krejcie và Morgan được làm tròn đến số nguyên gần nhất như bảng của họ vẫn in. Với Yamane, ví dụ tính tay của Israel in 333 nhưng Bảng 2 của chính ông làm tròn lên cùng công thức đó ở nhiều dòng, nên công cụ nêu cả con số làm tròn gần nhất lẫn con số làm tròn lên.
  • Giá trị Z là 1,645 (mức 90%), 1,960 (mức 95%) và 2,576 (mức 99%) (Harris, 2019, Table 9.3). Một số bảng in 2,575 hoặc 2,58, và sự khác biệt đó có thể làm kết quả lệch 1 người.
  • Yamane, và Krejcie và Morgan cố định mức tin cậy 95% và p = 0,5, riêng Krejcie và Morgan còn cố định sai số 0,05.
  • Quần thể từ 120 người trở xuống cần dùng giá trị t thay cho Z (Bartlett và cộng sự, 2001). Công cụ này chưa làm bước điều chỉnh đó.
  • Kết quả power dùng xấp xỉ chuẩn. Đáp số chính xác của t-test thường lớn hơn khoảng 1 người mỗi nhóm.
  • Quy tắc kinh nghiệm được ghi rõ là quy tắc kinh nghiệm. Chúng không phải công thức.

Ví dụ đã tính sẵn

Mỗi dòng được tính bằng đúng bộ máy ở khung phía trên, và cột cuối cho thấy nguồn đã công bố in con số nào.

Trường hợpCông cụ nàyCon số đã công bố
Tin cậy 95%, sai số 0,05, chưa biết quần thể, p = 0,5385385 (Israel, 2009); 384 (Bartlett và cộng sự, 2001, làm tròn xuống)
Tin cậy 90%, các điều kiện khác giữ nguyên271tính từ công thức, Z = 1,645
Tin cậy 99%, các điều kiện khác giữ nguyên664tính từ công thức, Z = 2,576
Quần thể 2.000, Cochran có hiệu chỉnh (dạng Israel)323323 (Israel, 2009)
Quần thể 1.679, Cochran có hiệu chỉnh (dạng Bartlett)313313 (Bartlett và cộng sự, 2001)
Dòng trên, với tỷ lệ phản hồi 65%482482 (Bartlett và cộng sự, 2001)
Trung bình của thang 7 mức, s = 1,167, sai số 0,21119118 (Bartlett và cộng sự, 2001, làm tròn xuống)
Quần thể 2.000, Yamane333333 (Israel, 2009)
Quần thể 2.000, Krejcie và Morgan322322 (Krejcie và Morgan, 1970, bảng)
Hai nhóm, d = 0,5, alpha 0,05, power 0,8063 mỗi nhóm64 người mỗi nhóm, tổng 128 (Kang, 2021)

Vì sao ba cách tính cho ba đáp số khác nhau ở quần thể 2.000 người?

Cách tínhKết quả
Yamane333
Krejcie và Morgan322
Cochran có hiệu chỉnh323

Cả ba cùng dùng mức tin cậy 95% và sai số 5%, vậy mà chênh nhau tới 11 người, vì mỗi công thức rút gọn theo một kiểu và hai trong ba cách làm tròn đến số nguyên gần nhất. Bạn chỉ cần chọn một cách, ghi tên nó trong phần Methods và nêu rõ các giả định của nó.


Câu hỏi1

◆ Câu hỏi 1 / 8 · Cỡ mẫu là gì

Cỡ mẫu là gì và vì sao nó quyết định bài báo của bạn có được đăng?

Trả lời trực tiếp: Cỡ mẫu là số quan sát bạn thu được, như bệnh nhân, sinh viên hay người trả lời khảo sát. Statistical power, tức khả năng phát hiện một hiệu ứng có thật, phụ thuộc vào cỡ mẫu, nên nghiên cứu thiếu power có thể bỏ sót hiệu ứng đó. Người bình duyệt xem lập luận cỡ mẫu là dấu hiệu của thiết kế nghiêm túc, nên phép tính này thuộc về đề cương chứ không thuộc phần thảo luận.

◆ Thuộc hướng dẫn công bố ScopusXem một đợt cố vấn công bố diễn ra thế nàoNăm giai đoạn từ buổi khởi động tới phản biện.

Một sinh viên đang tính toán trên bàn học
Một sinh viên đang tính toán trên bàn học (ảnh minh hoạ)

Bằng chứng: Hickey và cộng sự (2018), viết từ trang 4 tới trang 9 trên European Journal of Cardio-Thoracic Surgery, mô tả phép tính cỡ mẫu là một phần cốt lõi của thiết kế thử nghiệm và cảnh báo rằng các nghiên cứu nhỏ "may possess insufficient power to detect a clinically significant difference, if such a difference exists", tức có thể không đủ power để phát hiện một khác biệt có ý nghĩa lâm sàng nếu khác biệt đó tồn tại. Serdar và cộng sự (2021) bổ sung rằng nghiên cứu thiếu cỡ mẫu có nguy cơ mắc sai lầm loại II (Type II error, bỏ sót một hiệu ứng có thật), còn nghiên cứu lớn quá mức cần thiết thì lãng phí nguồn lực và làm nảy sinh vấn đề đạo đức. Cả hai đều là lỗi thiết kế mà người bình duyệt nhìn ra được.


Câu hỏi2

◆ Câu hỏi 2 / 8 · Ba con số

Bạn cần ba con số nào trước khi tính được cỡ mẫu?

Trả lời trực tiếp: Một phép tính a priori, tức tính trước khi có dữ liệu, cần ba đầu vào, và phần mềm giải ra đại lượng thứ tư là cỡ mẫu. Bạn đặt mức ý nghĩa alpha, thường là 0,05, tương đương 5% khả năng cho kết quả dương tính giả, đặt statistical power, thường là 0,80, và đặt effect size dự kiến. Cố định ba giá trị đó thì N cần thiết được xác định.

Mức alpha

0,05

là mức ý nghĩa alpha thường dùng, tương đương 5% khả năng cho kết quả dương tính giả

Power

0,80

là statistical power thường dùng, tức khả năng phát hiện một hiệu ứng có thật

Bốn đại lượng liên kết, ba cái được chọn và một cái được giải ra

Chạm vào một đại lượng để xem bạn làm gì với nó.

Đại lượng 1 / 4

Mức alpha

Bạn đặt mức ý nghĩa alpha, thường là 0,05, tương đương 5% khả năng cho kết quả dương tính giả.

Theo nội dung bài viết này, dựa trên Kang (2021).
Lưu hình nàyBốn đại lượng liên kết, ba cái được chọn và một cái được giải ra: Mức alpha (0,05), Power (0,80), Mức alpha, Power, Effect size, Cỡ mẫu

Bằng chứng: Kang (2021) nêu đúng bốn đại lượng liên kết với nhau: "the sample size calculation and power analysis are determined by the following factors: effect size, power (1-β), significance level (α), and type of statistical analysis" (Kang, 2021). Cố định ba đại lượng thì đại lượng còn lại được xác định, với 0,05 và 0,80 là hai giá trị quy ước trong nghiên cứu ngành sức khoẻ. Mức alpha 0,05 nghĩa là, khi thật ra không có hiệu ứng nào, nhà nghiên cứu chấp nhận 5% khả năng vẫn kết luận nhầm là có. Bài "power primer" của Cohen (1992), dài 5 trang trên Psychological Bulletin từ trang 155 tới 159, là nguồn gốc của quy ước power 0,80 được dùng rộng rãi, dựa trên lập luận chấp nhận tỷ lệ sai lầm loại II gấp bốn lần tỷ lệ sai lầm loại I.


Câu hỏi3

◆ Câu hỏi 3 / 8 · Effect size

Chọn effect size thế nào khi bạn chưa có dữ liệu thử nghiệm?

Trả lời trực tiếp: Effect size là đầu vào khó ước lượng nhất và cũng làm N thay đổi nhiều nhất, vì hiệu ứng cần phát hiện càng nhỏ thì càng cần nhiều người tham gia. Hãy ước lượng theo thứ tự ưu tiên, trước hết từ một nghiên cứu đã công bố tương tự, sau đó từ một pilot nhỏ, và chỉ khi không còn cách nào khác mới dùng mốc quy ước của Cohen. Luôn viết ra lý do bạn chọn.

Các mốc quy ước effect size của Cohen

Chạm vào một phép kiểm định để xem giá trị nhỏ, trung bình và lớn. Chỉ dùng khi không có ước lượng nào tốt hơn.

Hai trung bình

So sánh hai trung bình dùng d của Cohen, với mức nhỏ 0,20, trung bình 0,50 và lớn 0,80.

Bảng trong bài viết này, dựa trên Cohen (1992).
Lưu hình nàyCác mốc quy ước effect size của Cohen: Hai trung bình, Tương quan, Tỷ lệ, ANOVA, Chi-square

Bằng chứng: Serdar và cộng sự (2021) khuyên rút hiệu ứng dự kiến từ tài liệu đã có hoặc từ một pilot bất cứ khi nào có thể, và chỉ dùng mốc chuẩn hoá khi không có ước lượng nào tốt hơn. Cohen (1992) đưa ra các ngưỡng quy ước mà nhà nghiên cứu quay về khi không còn lựa chọn, tóm tắt trong bảng dưới đây.

Các mốc quy ước của Cohen (Cohen, 1992). Chỉ dùng khi không có ước lượng nào tốt hơn.

Phép kiểm định Thước đo effect size Nhỏ Trung bình Lớn
So sánh hai trung bình d của Cohen 0,20 0,50 0,80
Tương quan r 0,10 0,30 0,50
Chênh lệch tỷ lệ h 0,20 0,50 0,80
ANOVA (khác biệt giữa nhóm) f 0,10 0,25 0,40
Chi-square / liên hệ w 0,10 0,30 0,50

Câu hỏi4

◆ Câu hỏi 4 / 8 · Chạy G*Power

Chạy phép tính trong G*Power ra sao?

Trả lời trực tiếp: G*Power là phần mềm miễn phí, được chấp nhận rộng rãi và xử lý được phần lớn thiết kế thông dụng. Bạn chọn phép kiểm định khớp với phân tích dự kiến, đặt test family, nhập alpha, power và effect size, rồi bấm Calculate để nhận N cần thiết. Lỗi hay gặp nhất là chọn một phép kiểm định không khớp với phân tích bạn thật sự sẽ chạy.

Quy trình trong G*Power

Chạm vào một bước để xem cần làm gì.

Bắt đầu từ phép kiểm định khớpKết thúc ở con số N

Bước 1 / 4

Chọn phép kiểm định

Bạn chọn phép kiểm định khớp với phân tích dự kiến.

Theo nội dung bài viết này, dựa trên Kang (2021) và Faul và cộng sự (2007).
Lưu hình nàyQuy trình trong G*Power: Chọn phép kiểm định, Đặt test family, Nhập đầu vào, Bấm Calculate

Bằng chứng: Kang (2021) và Faul cùng cộng sự (2007), với bài viết về phần mềm này trên Behavior Research Methods chạy từ trang 175 tới 191, đều nhấn mạnh rằng phép kiểm định chọn trong G*Power phải phản chiếu đúng phân tích đã lên kế hoạch, dù là t-test, ANOVA, hồi quy hay chi-square, vì mỗi phép kiểm định có hàm power và thước đo effect size riêng. Chọn nhầm test family sẽ cho ra một con số sai mà phần mềm không báo lỗi gì.


Câu hỏi5

◆ Câu hỏi 5 / 8 · Công thức nào

Công thức tính cỡ mẫu nào hợp với bạn: Cochran, Yamane hay Krejcie và Morgan?

Trả lời trực tiếp: Nếu bạn tự đặt được mức tin cậy và sai số cho phép thì hãy dùng công thức Cochran, vì mọi đầu vào đều hiện rõ. Yamane, và Krejcie và Morgan là hai cách tính tắt đã cố định sẵn mức tin cậy 95% và p = 0,5. Với quần thể 2.000 người và sai số 5%, ba cách cho ra 333, 322 và 323 người.

Quần thể

2.000

người là quần thể trong ví dụ, và với sai số 5% ba công thức cho ra 333, 322 và 323 người

Công thức 01

Yamane

Yamane là cách tính tắt đã cố định sẵn mức tin cậy 95% và p = 0,5, và cho ra 333.

Công thức 02

Krejcie và Morgan

Bảng của Krejcie và Morgan in 322, và các bảng dựng từ công thức này giả định alpha 0,05 và độ chính xác 0,05, nên đừng dùng chúng khi alpha hoặc sai số của bạn khác.

Công thức 03

Cochran

Công thức Cochran cho bạn tự đặt mức tin cậy và sai số cho phép nên mọi đầu vào đều hiện rõ, và khi có hiệu chỉnh thì cho ra 323.

Theo nội dung bài viết này, dựa trên Israel (2009), Krejcie và Morgan (1970) và Bartlett và cộng sự (2001).
Lưu hình nàyCông thức tính cỡ mẫu nào hợp với bạn? Quần thể 2.000 người, sai số 5%: Yamane cho 333, Krejcie và Morgan cho 322, Cochran cho 323

Bằng chứng: Israel (2009) gọi công thức Yamane là một "simplified formula", tức công thức rút gọn, giả định mức tin cậy 95% và p = .5, và ông tính ví dụ quần thể 2.000 người ra 333. Vì hai cách tính tắt đều cố định các thiết lập đó, chúng chỉ hợp với khảo sát ước lượng một tỷ lệ ở mức tin cậy 95%. Ở cùng quần thể, bảng của Krejcie và Morgan in 322 và Cochran có hiệu chỉnh cho 323 (Israel, 2009; Krejcie & Morgan, 1970). Các giá trị Z đứng sau cả ba cách là 1,645, 1,960 và 2,576 cho mức tin cậy 90%, 95% và 99% (Harris, 2019). Bartlett và cộng sự (2001) cảnh báo các bảng dựng từ công thức của Krejcie và Morgan "assume an alpha of .05 and a degree of accuracy of .05", nghĩa là giả định alpha 0,05 và độ chính xác 0,05, nên đừng dùng chúng khi alpha hoặc sai số của bạn khác.

Về cái tên Slovin. Một số hướng dẫn gọi công thức n = N / (1 + N e²) là công thức Slovin. Chúng tôi chưa tìm được nguồn đáng tin nào nói rằng công thức Slovin và công thức Yamane là một, nên cái tên này ở đây chưa được kiểm chứng, và bạn nên gọi đúng tên mà tài liệu bạn trích dẫn dùng.


Câu hỏi6

◆ Câu hỏi 6 / 8 · Bỏ cuộc

Điều chỉnh con số cho tỷ lệ bỏ cuộc và không phản hồi thế nào?

Trả lời trực tiếp: N mà G*Power trả về là số người bạn cần phân tích, không phải số người cần tuyển. Hãy cộng thêm phần hao hụt dự kiến bằng cách chia mục tiêu cho (1 trừ tỷ lệ bỏ cuộc). Nếu cần 100 người hoàn thành và dự kiến 20% bỏ cuộc, bạn tuyển 100 ÷ 0,80 = 125 người. Nghiên cứu khảo sát làm tương tự với tỷ lệ không phản hồi dự kiến.

Bằng chứng: Hickey và cộng sự (2018) lưu ý rằng nghiên cứu thực tế luôn mất người tham gia vì rút lui, mất liên lạc khi theo dõi và dữ liệu khuyết, nên mẫu tuyển vào phải lớn hơn mẫu phân tích đã tính. Serdar và cộng sự (2021) cũng khuyên đưa phần dự phòng hao hụt vào ngay mục tiêu tuyển người, thay vì phát hiện thiếu hụt khi nghiên cứu đã chạy được nửa đường. Trong ví dụ 100 người hoàn thành và 20% bỏ cuộc, con số tuyển là 125, vì phần hao hụt tính trên số người tuyển vào chứ không tính trên số người hoàn thành.


Câu hỏi7

◆ Câu hỏi 7 / 8 · Báo cáo gì

Tạp chí trông đợi bạn báo cáo những gì về cỡ mẫu?

Trả lời trực tiếp: Hãy báo cáo đủ để người đọc tái lập được phép tính, gồm biến kết cục chính và mức chênh lệch bạn coi là có ý nghĩa, mức alpha, power mục tiêu, effect size giả định kèm nguồn của nó, phép kiểm định đã dùng, và N cuối cùng đã tính cả phần dự phòng hao hụt. Ghi đủ những thông tin này trong phần Methods giờ là mức tối thiểu, không còn là điểm cộng.

Bằng chứng: Tuyên bố CONSORT 2010 (Schulz và cộng sự, 2010) yêu cầu các thử nghiệm ngẫu nhiên báo cáo cỡ mẫu được xác định ra sao. Tuy vậy, Kang (2021) và Serdar cùng cộng sự (2021) đều dẫn các tổng quan cho thấy chỉ khoảng một phần ba số phép tính cỡ mẫu trên các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao được mô tả đủ chi tiết để tái lập, nên làm tốt phần này là một tín hiệu chất lượng thật sự.


Câu hỏi8

◆ Câu hỏi 8 / 8 · Nghiên cứu nhỏ

Nếu nghiên cứu của bạn nhỏ, hoặc bạn đã thu xong dữ liệu thì sao?

Trả lời trực tiếp: Nếu không đạt được N lý tưởng, đừng tạo ra một con số "post-hoc power" để bào chữa, vì người bình duyệt nhận ra ngay. Hãy thiết kế trung thực trong giới hạn của mình, bằng cách đăng ký trước một pilot, báo cáo khoảng tin cậy thay vì chạy theo mức ý nghĩa, và nói thẳng giới hạn ra. Một nghiên cứu nhỏ minh bạch dễ được đăng hơn nhiều so với một nghiên cứu nói quá.

Bằng chứng: Hickey và cộng sự (2018) cảnh báo rõ về phép tính post-hoc power, vốn mang tính luẩn quẩn một khi dữ liệu đã có. Cohen (1992) và Serdar cùng cộng sự (2021) hướng nhà nghiên cứu tới việc báo cáo effect size kèm khoảng tin cậy, thứ vẫn giữ giá trị thông tin ngay cả khi mẫu khiêm tốn. Đây cũng là con đường mà nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam giai đoạn đầu sự nghiệp đi vào kỷ yếu hội thảo và tạp chí Q2.


Câu hỏi thường gặp

Tôi nên nhắm power bao nhiêu?

Quy ước là 0,80, nghĩa là 80% khả năng phát hiện được một hiệu ứng có thật. Một số nghiên cứu khẳng định hoặc có tính rủi ro cao dùng mức 0,90. Power cao hơn đòi mẫu lớn hơn, nên đây là một đánh đổi bạn phải cân với tính khả thi của nghiên cứu.

Cứ 30 người tham gia là đủ phải không?

Không. Quy tắc "30 là đủ" không có cơ sở, vì con số cần thiết phụ thuộc hoàn toàn vào effect size, power và phép kiểm định. Một hiệu ứng dự kiến nhỏ có thể cần tới hàng trăm người, và không có con số nào áp dụng được cho mọi nghiên cứu.

Tôi tính cỡ mẫu sau khi thu dữ liệu được không?

Về kỹ thuật thì vẫn chạy được, nhưng post-hoc power bị phê phán rộng rãi vì tính luẩn quẩn của nó. Hãy lên kế hoạch cỡ mẫu trước khi thu dữ liệu, còn sau đó thì báo cáo effect size và khoảng tin cậy.

Tôi dùng phần mềm miễn phí nào được?

G*Power là công cụ miễn phí được dùng rộng rãi nhất, phủ được t-test, ANOVA, hồi quy, tương quan và chi-square. Nhiều tạp chí chấp nhận kết quả từ phần mềm này, và bạn nên ghi rõ phiên bản đã dùng trong phần Methods.

Nghiên cứu định tính có cần tính cỡ mẫu không?

Không theo nghĩa power analysis, vì phép tính đó chỉ áp dụng cho kiểm định giả thuyết định lượng. Nghiên cứu định tính biện minh cho cỡ mẫu bằng việc đạt tới điểm bão hoà dữ liệu, một lô gích khác nhưng chính đáng ngang bằng.

MAAS có giúp tôi lập luận cho cỡ mẫu không?

Có. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS đồng hành cùng nhà nghiên cứu Việt Nam qua thiết kế nghiên cứu, chọn phép kiểm định, đặt power và effect size, chạy thử phép tính và góp ý cho phần lập luận cỡ mẫu, theo mô hình từng giai đoạn, trong đó bạn là người đưa ra quyết định và tự viết bài. Đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ.


Sẵn sàng thiết kế một nghiên cứu mà người bình duyệt tin được?

Cố vấn Công bố của MAAS đồng hành cùng nhà nghiên cứu qua khâu thiết kế nghiên cứu, kể cả cách lập luận cho cỡ mẫu. Bạn là người đưa ra quyết định, còn cố vấn xem lại lập luận của bạn. Công cụ này chỉ cho một con số để lập kế hoạch, nên bạn hãy xác nhận lại với giảng viên hướng dẫn hoặc hội đồng đạo đức.

Đặt lịch tư vấn Cố vấn Công bố cùng MAAS →


Tài nguyên liên quan


Tài liệu tham khảo

  • Bartlett, J. E., II, Kotrlik, J. W., & Higgins, C. C. (2001). Organizational research: Determining appropriate sample size in survey research. Information Technology, Learning, and Performance Journal, 19(1), 43–50. https://www.opalco.com/wp-content/uploads/2014/10/Reading-Sample-Size1.pdf
  • Cohen, J. (1992). A power primer. Psychological Bulletin, 112(1), 155–159. https://doi.org/10.1037/0033-2909.112.1.155
  • Faul, F., Erdfelder, E., Lang, A.-G., & Buchner, A. (2007). G*Power 3: A flexible statistical power analysis program for the social, behavioral, and biomedical sciences. Behavior Research Methods, 39(2), 175–191. https://doi.org/10.3758/BF03193146
  • Harris, G. L. (2019). Selected laboratory and measurement practices and procedures to support basic mass calibrations (2019 ed.; NISTIR 6969). National Institute of Standards and Technology. https://doi.org/10.6028/NIST.IR.6969-2019
  • Hickey, G. L., Grant, S. W., Dunning, J., & Siepe, M. (2018). Statistical primer: Sample size and power calculations: Why, when and how? European Journal of Cardio-Thoracic Surgery, 54(1), 4–9. https://doi.org/10.1093/ejcts/ezy169
  • Israel, G. D. (2009). Determining sample size (PEOD-6). University of Florida, IFAS Extension. https://ask.ifas.ufl.edu/publication/PD006
  • Kang, H. (2021). Sample size determination and power analysis using the G*Power software. Journal of Educational Evaluation for Health Professions, 18, 17. https://doi.org/10.3352/jeehp.2021.18.17
  • Krejcie, R. V., & Morgan, D. W. (1970). Determining sample size for research activities. Educational and Psychological Measurement, 30(3), 607–610.
  • Schulz, K. F., Altman, D. G., & Moher, D. (2010). CONSORT 2010 statement: Updated guidelines for reporting parallel group randomised trials. BMJ, 340, c332. https://doi.org/10.1136/bmj.c332
  • Serdar, C. C., Cihan, M., Yücel, D., & Serdar, M. A. (2021). Sample size, power and effect size revisited: Simplified and practical approaches in pre-clinical, clinical and laboratory studies. Biochemia Medica, 31(1), Article 010502. https://doi.org/10.11613/BM.2021.010502

Công cụ và tài nguyên


Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh sau đại học và nhà nghiên cứu người Việt. Cố vấn Công bố của MAAS là một đối tác cố vấn, đồng hành cùng tác giả theo mô hình từng giai đoạn. MAAS không viết, không nộp bài và không đảm bảo kết quả chấp nhận bài thay cho tác giả.

Một buổi tư vấn miễn phí 20 phút với cố vấn công bố của MAAS, để cùng trao đổi về thiết kế nghiên cứu của bạn và cách lập luận cho cỡ mẫu.

Đặt buổi tư vấn miễn phí ▸
Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Mục lục