Skip to content
Quay lại BlogGeneral

ECON3700: định giá thứ không có thị trường, rồi bảo vệ con số đó

16 phút đọc3,175 từ

Kinh tế học môi trường tồn tại để gắn con số cho những thứ chưa từng được mua bán. Các con số ấy đang bị tranh cãi, và điểm của bạn phụ thuộc vào việc có nói ra điều đó hay không.

Kinh tế học môi trường tồn tại để gắn con số cho những thứ chưa từng được mua bán. Các con số ấy đang bị tranh cãi, và điểm của bạn phụ thuộc vào việc có nói ra điều đó hay không. Đây là một sự kết hợp oái oăm với những bạn bước vào môn học và chờ đợi một môn thiên về kỹ thuật, bởi phần kỹ thuật mới là nửa dễ. Nửa khó hơn là bảo vệ được lập trường của mình về một phương pháp định giá mà các nhà kinh tế kỳ cựu đã tranh luận trên mặt báo suốt ba mươi năm, rồi giải thích nó cho một người không phải dân kinh tế. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như thế.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi chuyên gia Kinh tế cấp cao (Tiến sĩ, Kinh tế học)
Cập nhật: 15/08/2026
Chuyên mục: writing-tips


Trước hết, hãy chắc bạn đang học đúng ECON3700

Trả lời thẳng: Mã này bị dùng lại rộng hơn gần như mọi mã khác trong loạt bài này, và các môn đứng sau nó chẳng liên quan gì tới nhau. Ở University of Queensland, đây là môn Environmental Economics. Ở University of Utah và Southern Utah University, đây là môn Sports Economics. Ở Hong Kong University of Science and Technology, đây là môn Writing as an Economist. Ở William Paterson University, đây là môn International Economics.

Bằng chứng: Năm trường, bốn môn hoàn toàn khác nhau. Nếu chỉ gõ mã môn để tìm tài liệu, xác suất bạn vớ đúng môn của mình chỉ vào khoảng một phần tư, và riêng tài liệu kinh tế học thể thao thì vừa nhiều vừa trông rất thuyết phục.

Ví dụ: Một bạn dựng danh mục tài liệu theo mã và gom được vài tuần tài liệu, tới lúc đó mới nhận ra tất cả đều nói về lương vận động viên và lợi nhuận của câu lạc bộ. Tài liệu không có gì sai. Nó chỉ thuộc về một môn khác ở một trường khác.

Bài này viết cho bản của University of Queensland. Nếu bạn học ở trường khác, hãy dừng ở đây và làm việc với đề cương môn của chính mình.


Môn ở UQ thật ra dạy những gì?

Trả lời thẳng: ECON3700 Environmental Economics là môn 2 đơn vị tín chỉ bậc đại học thuộc School of Economics, nằm trong Faculty of Business, Economics and Law. Môn tiên quyết là ECON1010 hoặc 1011 hoặc 2011. Phạm vi được công bố đi từ thị trường, thất bại thị trường và ngoại tác, qua kinh tế học của các vấn đề ô nhiễm môi trường cùng những biện pháp kinh tế dùng để kiểm soát ô nhiễm và điều tiết môi trường, rồi tới biến đổi môi trường, tăng trưởng kinh tế, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng dân số.

Bằng chứng: Trình tự đó có một logic đáng nhận ra trước khi bạn bắt đầu. Nó mở bằng câu hỏi vì sao thị trường thất bại trong lĩnh vực này, chuyển sang có thể làm gì với chuyện đó, rồi khép lại bằng câu hỏi những việc đang làm có đủ hay không khi đặt cạnh quy mô tăng trưởng và dân số. Mỗi khối là một loại câu hỏi khác nhau. Khối đầu mang tính chẩn đoán, khối giữa mang tính công cụ, khối cuối mang tính đánh giá, và những bài dùng chung một giọng cho cả ba thường nằm ở nhóm điểm giữa.

Ví dụ: Khi được hỏi vì sao một ngư trường sụp đổ, một bài yếu mô tả tình trạng đánh bắt quá mức. Một bài mạnh chỉ ra thất bại thị trường nằm ở chỗ không có cơ chế loại trừ cưỡng chế được, rồi nói công cụ nào xử lý đúng thất bại đó và công cụ nào thì không. Bài đầu thuật lại một kết cục. Bài sau định vị một cơ chế.


Vì sao phần lớn điểm lại nằm ngoài bài thi viết?

Trả lời thẳng: Vì một trong các chuẩn đầu ra được công bố là truyền đạt kết quả và giải pháp bằng nhiều định dạng khác nhau, và phần đánh giá được dựng ra để kiểm chính điều đó. Ở bản đề cương môn mà bài này soi, các bài đánh giá gồm một podcast làm theo nhóm chiếm 35%, một bài thi viết giữa kỳ chiếm 30%, và một nghiên cứu tình huống ứng dụng gồm báo cáo viết kèm phần tự đánh giá chiếm 35%.

Lưu ý về nguồn: những trọng số đó lấy từ một bản đề cương đã công bố cho một kỳ giảng dạy. Đề cương môn ở UQ được ban hành lại mỗi học kỳ và cơ cấu bài có thay đổi. Đề cương của chính lớp bạn mới là căn cứ, và đó là tài liệu nên đọc ngay tuần đầu chứ không phải tuần trước hạn nộp podcast.

Bằng chứng: Cấu trúc này kéo theo một hệ quả sinh viên hay đánh giá thấp. Nếu khoảng hai phần ba số điểm nằm ở một bài nói theo nhóm và một báo cáo ứng dụng có phần tự đánh giá, thì những năng lực gánh cả môn là chọn luận điểm, giải thích bằng lời dễ hiểu và tự nhìn lại mình một cách trung thực, mà không năng lực nào trong ba thứ đó khá lên nhờ đọc lại slide bài giảng. Chúng khá lên nhờ viết nháp, nói thành tiếng, và cắt bớt.

Ví dụ: Một bạn có điểm thi cao nhất nhóm thảo luận của mình nhưng tổng kết chỉ ở mức trung bình. Phần podcast của bạn ấy chính xác và không nghe nổi, vì nó là một bản đọc lại thứ văn viết cho trang giấy. Không thiếu kiến thức nào cả. Chính định dạng mới là thứ đang đòi hỏi một việc mà bạn ấy chưa chuẩn bị.


Mỗi bài đánh giá thật ra trả điểm cho cái gì?

Bài đánh giá Chuẩn đầu ra nó gánh Thứ ăn điểm Thứ âm thầm mất điểm
Podcast theo nhóm Truyền đạt kết quả bằng nhiều định dạng Một luận điểm rõ, nói bằng ngôn ngữ của người nghe, có nêu phần chưa chắc chắn Đọc to một đoạn văn viết sẵn, hoặc bốn thành viên nói bốn bài rời nhau
Thi giữa kỳ Vận dụng lý thuyết và khung phân tích Gọi tên thất bại thị trường trước khi nghĩ tới công cụ Mô tả một vấn đề môi trường mà không chẩn đoán nó
Nghiên cứu tình huống ứng dụng Triển khai công cụ thị trường và phi thị trường, đánh giá phản biện Chọn một công cụ và bảo vệ lựa chọn đó trước một phương án thay thế có tên Liệt kê mọi công cụ mà môn học đã đi qua
Phần tự đánh giá Đánh giá phản biện việc ra quyết định Nói bạn sẽ làm khác chỗ nào và vì sao Kể lại việc mình đã làm bằng giọng tích cực

Con số ấy từ đâu ra, và vì sao nó bị tranh cãi?

Trả lời thẳng: Phần lớn kinh tế học môi trường dựa trên việc định giá những thứ không có giá thị trường, và cách làm thông thường là hỏi người ta sẵn lòng trả bao nhiêu. Phương pháp đó, gọi là định giá ngẫu nhiên, chính là nơi diễn ra một trong những cuộc tranh luận kéo dài và còn để ngỏ nhất của kinh tế học ứng dụng, và một môn năm ba chờ bạn biết điều đó chứ không chờ bạn áp dụng phương pháp một cách ngây thơ.

Bằng chứng: Diamond và Hausman (1994) đặt câu hỏi trên Journal of Economic Perspectives rằng có một con số thì có tốt hơn không có con số nào không, và lập luận rằng các câu trả lời trong định giá ngẫu nhiên trượt những phép kiểm tra tính nhất quán cơ bản theo kiểu gợi ý rằng chúng không hề đo được sở thích của người trả lời. Mười tám năm sau, chính tạp chí ấy cho chạy lại cuộc tranh luận. Hausman (2012) nhắc lại lập luận của mình dưới nhan đề "Định giá ngẫu nhiên: từ đáng ngờ tới vô vọng". Cũng trong số đó, Kling, Phaneuf và Zhao (2012) xem lại câu hỏi và đi tới một quan điểm dè dặt hơn về những gì phương pháp này chống đỡ được và không chống đỡ được. Sau đó Haab, Interis, Petrolia và Whitehead (2013) đáp lại Hausman trực tiếp trên Applied Economic Perspectives and Policy.

Vì sao điều này liên quan tới điểm của bạn: chuẩn đầu ra của môn yêu cầu đánh giá phản biện, và đây chính là hình dạng của một bất đồng còn sống thật, không phải một cuộc tranh luận dàn dựng cho có. Bạn không bị đòi phải phân xử nó. Bạn được chờ đợi là biết nó tồn tại, nói rõ phân tích của mình nghiêng về phía nào, và nêu điều gì sẽ làm bạn đổi ý.

Ví dụ: Khi được yêu cầu định giá một vùng đất ngập nước, một bài yếu cho ra một con số mức sẵn lòng chi trả rồi dùng luôn. Một bài mạnh cho ra đúng con số ấy, ghi nhận rằng phương pháp đứng sau nó đang bị tranh cãi, gọi tên đúng điểm yếu có ý nghĩa với tình huống này, rồi nói khuyến nghị chính sách sẽ ra sao nếu con số đó chỉ bằng một nửa. Bài thứ hai không kém dứt khoát. Nó dứt khoát về một thứ mà nó bảo vệ được.


Chọn công cụ thế nào cho khác với liệt kê công cụ?

Trả lời thẳng: Bằng cách hỏi xem mình đang không biết điều gì. Việc chọn giữa một công cụ giá như thuế và một công cụ lượng như hệ thống hạn ngạch phát thải không phải chuyện sở thích, và có một kết quả kinh điển cho bạn biết lựa chọn ấy xoay quanh cái gì.

Bằng chứng: Weitzman (1974) chỉ ra rằng khi có bất định về chi phí, việc công cụ giá hay công cụ lượng hoạt động tốt hơn phụ thuộc vào độ dốc của đường lợi ích biên và đường chi phí biên. Chỗ nào thiệt hại biên tăng dốc thì việc xác định đúng sản lượng quan trọng hơn, và công cụ lượng làm tốt hơn. Chỗ nào thiệt hại biên tương đối phẳng còn chi phí lại bất định thì công cụ giá giới hạn được mức thiệt hại khi ta đoán sai. Đó là một quy tắc quyết định dùng được, và trích dẫn nó cho đúng là chỗ tách một bài ứng dụng khỏi một bài mô tả.

Ví dụ: Hai bạn cùng khuyến nghị đánh thuế carbon cho một tình huống. Một bạn nói thuế cho doanh nghiệp sự linh hoạt. Bạn còn lại nói đường thiệt hại biên của chất gây ô nhiễm này tương đối phẳng trong khoảng đang xét, trong khi chi phí giảm thải lại rất bất định, và đó đúng là điều kiện mà công cụ giá chiếm ưu thế, rồi nói thêm điều gì sẽ đảo ngược khuyến nghị ấy. Cả hai cùng khuyến nghị một thứ. Chỉ một bạn thật sự đã lựa chọn.


Điều gì làm khó những bạn đã ôn theo kiểu thi viết?

Trả lời thẳng: Ba thứ, và không thứ nào thuộc về kinh tế học. Hình thức làm nhóm, người nghe không chuyên, và phần tự đánh giá.

Bằng chứng: Một podcast làm nhóm hỏng theo một kiểu đoán trước được, là bốn phần đều tròn trịa mà không cùng trả lời một câu hỏi. Thống nhất luận điểm duy nhất trước khi ai đó viết kịch bản là cách chữa rẻ nhất hiện có, và gần như luôn bị bỏ qua. Người nghe không chuyên là cái bẫy thứ hai, vì giải thích ngoại tác mà không được dùng từ ngoại tác khó hơn giải thích có kèm từ đó, và đúng thứ ấy mới là điều chuẩn đầu ra đang kiểm. Phần tự đánh giá là cái bẫy thứ ba, bởi một bài tự đánh giá đi khen quy trình của chính mình thì không phải tự đánh giá, mà người chấm thì đã đọc rất nhiều bài như vậy.

Ví dụ: Sinh viên Việt Nam ở loại môn này thường vững phần nội dung chuyên môn hơn mức mà cách đánh giá cho họ chỗ để thể hiện, rồi mất điểm ở một bài nói vì những lý do chẳng liên quan gì tới mức độ hiểu bài. Cách chuẩn bị hữu ích không phải nạp thêm nội dung. Nó là tập nói một lời giải thích thành tiếng cho tới khi nó đứng được mà không cần nhìn giấy, và chính việc đó cũng lộ ra những chỗ mà hiểu biết của mình mỏng hơn cảm giác lúc đọc trên trang.


Một trình tự làm việc gợi ý

  1. Mở đề cương môn của chính mình ngay tuần đầu và ghi lại ba mốc hạn nộp. Podcast là bài người ta hay lên kế hoạch muộn nhất.
  2. Với mỗi chủ đề, viết ra thất bại thị trường trong một mệnh đề trước khi viết bất cứ điều gì về chính sách. Chẩn đoán trước, công cụ sau.
  3. Gặp một con số định giá thì hỏi nó được tạo ra bằng cách nào. Sở thích bộc lộ, sở thích phát biểu và chuyển giao lợi ích mang sức nặng khác nhau và hứng những phản bác khác nhau.
  4. Với bài nghiên cứu tình huống, chọn một công cụ rồi lập luận chống lại phương án gần nó nhất. Một lập luận đối đầu với một đối thủ có thật ăn điểm hơn một bản điểm danh mọi phương án.
  5. Thống nhất luận điểm duy nhất của podcast trước khi viết kịch bản. Rồi viết nháp, nói thành tiếng, và cắt hết những câu tồn tại chỉ vì chúng đúng.
  6. Viết phần tự đánh giá về một quyết định bạn sẽ làm khác đi. Nếu trong bản nháp không có gì bạn muốn đổi thì phần tự đánh giá chưa bắt đầu.

Câu hỏi thường gặp

Bài này viết cho trường nào?
University of Queensland, nơi ECON3700 là môn Environmental Economics, 2 đơn vị tín chỉ thuộc School of Economics. Cùng mã này còn là môn Sports Economics ở hai trường bang Utah, môn Writing as an Economist ở HKUST, và môn International Economics ở William Paterson, nên hãy xác nhận trước khi dùng bất kỳ tài liệu nào tìm được theo mã.

Cần học xong môn nào trước?
Môn tiên quyết được công bố là ECON1010 hoặc 1011 hoặc 2011. Điều kiện tiên quyết được nêu lại mỗi năm, nên hãy xem mục của đúng năm bạn đăng ký.

Trọng số các bài đánh giá ra sao?
Bản đề cương mà bài này soi ghi podcast nhóm 35%, thi giữa kỳ 30%, và nghiên cứu tình huống ứng dụng 35%. Đề cương được ban hành lại mỗi học kỳ và cơ cấu có đổi, nên hãy đọc bản của chính bạn thay vì lên kế hoạch theo con số ở đây.

Tôi có cần nền toán không?
Ít hơn sinh viên vẫn tưởng. Môn tiên quyết là một môn kinh tế học nhập môn chứ không phải một môn toán, và phần phân tích chủ yếu là áp một khung vào một tình huống chứ không phải đi biến đổi công thức.

Tôi nên phản biện các phương pháp định giá tới mức nào?
Đủ để gọi tên bất đồng và chọn một chỗ đứng bên trong bất đồng ấy. Áp dụng định giá ngẫu nhiên mà không hề ghi nhận rằng tính hợp lệ của nó đang bị tranh cãi thì đọc lên như một bài chưa nắm tình hình ở tầm năm ba, còn gạt bỏ nó hoàn toàn thì cũng thiếu căn cứ ngang vậy.

Chuẩn bị cho một bài đánh giá dạng podcast thế nào?
Bằng cách chốt luận điểm duy nhất trước, rồi tập nói thành tiếng thay vì đi trau chuốt kịch bản. Một đoạn văn viết đem đọc lên sẽ nghe đúng như một đoạn văn viết đem đọc lên, mà chuẩn đầu ra đang kiểm là truyền đạt bằng một định dạng khác, chứ không phải cùng một sản phẩm đem giao theo cách khác.


Bài liên quan

Hỏi chuyên gia MAAS về môn của bạn


MAAS đứng ở đâu trong việc này

Chuyên gia MAAS đồng hành cùng người học ở những môn như thế này, chứ không làm thay. Với một môn dồn trọng số vào phần nói và phần ứng dụng, buổi làm việc hữu ích nhất thường là buổi ít kỹ thuật nhất: nghe bạn trình bày tình huống bằng lời của chính mình, chỉ ra chỗ mà người nghe sẽ mất mạch, và hỏi điều gì làm bạn đổi khuyến nghị. Người học thường nhận ra phần kinh tế học của mình vốn ổn, còn phần giải thích thì mặc định người nghe biết quá nhiều. Bài vẫn là của bạn. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ gia sưdịch vụ hỗ trợ thiết kế bài thuyết trình là hai chỗ nên bắt đầu.


References

Diamond, P. A., & Hausman, J. A. (1994). Contingent valuation: Is some number better than no number? Journal of Economic Perspectives, 8(4), 45–64. https://doi.org/10.1257/jep.8.4.45

Haab, T. C., Interis, M. G., Petrolia, D. R., & Whitehead, J. C. (2013). From hopeless to curious? Thoughts on Hausman's "dubious to hopeless" critique of contingent valuation. Applied Economic Perspectives and Policy, 35(4), 593–612. https://doi.org/10.1093/aepp/ppt029

Hausman, J. (2012). Contingent valuation: From dubious to hopeless. Journal of Economic Perspectives, 26(4), 43–56. https://doi.org/10.1257/jep.26.4.43

Kling, C. L., Phaneuf, D. J., & Zhao, J. (2012). From Exxon to BP: Has some number become better than no number? Journal of Economic Perspectives, 26(4), 3–26. https://doi.org/10.1257/jep.26.4.3

Weitzman, M. L. (1974). Prices vs. quantities. The Review of Economic Studies, 41(4), 477–491. https://doi.org/10.2307/2296698

Tools & resources

The University of Queensland. (2026). ECON3700 course profiles. https://course-profiles.uq.edu.au/course-profiles/ECON3700-60562-7560

The University of Queensland Library. (2026). ECON3700: Environmental Economics reading list. https://uq.rl.talis.com/courses/econ3700.html

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.

ECON3700: định giá thứ không có thị trường, rồi bảo vệ con số đó