Skip to content

← Blog

◆ Truyền thông và PR

COMM2384 Client Management ở RMIT: làm assignment thế nào?

+7 câu hỏi+1 hình+17 phút đọc

Trả lời thẳng: Assignment COMM2384 chấm khả năng quản lý mối quan hệ giữa đội truyền thông và khách hàng của đội, nên điểm cao đến từ việc bạn lý giải được giá trị và mức giá, đàm phán khi khách phản đối rồi vẫn giữ được quan hệ. Rubric không chấm chiến dịch bóng bẩy. Hãy neo bài vào lý thuyết quản lý quan hệ và đàm phán, rồi luyện bảo vệ kế hoạch trước những câu hỏi khó.

Môn được dạy tại cơ sở Saigon South của RMIT, mở cửa năm 2001, và cơ sở Hà Nội, mở cửa năm 2004. Sinh viên gặp khó ở môn này thường trình bày được một kế hoạch nhưng không bảo vệ được mức giá và không xử lý được khi khách hàng phản đối.

Bài viết đi qua bảy câu hỏi mà sinh viên Việt Nam ở RMIT hay hỏi cố vấn MAAS nhất, từ nội dung môn, dạng bài, cách chấm, khung lý thuyết nên dùng, cách cấu trúc các bài nộp cho tới những lỗi hay gặp, để bạn chuẩn bị bảo vệ kế hoạch của mình trước khách hàng.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 23/07/2026
Chuyên mục: communication-pr


Câu hỏi1

◆ Câu hỏi 1 / 7 · Về môn học

Môn COMM2384 Client Management học về điều gì?

Trả lời thẳng: COMM2384 là môn truyền thông bậc cử nhân của RMIT, giảng dạy tại RMIT Việt Nam trong chương trình Bachelor of Professional Communication. Môn rèn kỹ năng quản lý quan hệ nghề nghiệp giữa người làm truyền thông, khách hàng và đồng nghiệp, đi qua quản lý khách hàng (account management) và đàm phán để điều hoà kỳ vọng của nhiều bên, với yêu cầu bạn nghĩ như một người quản lý khách hàng.

COMM2384 là môn 12 tín chỉ (credit point). Mô tả môn nói rõ phần cốt lõi là mối quan hệ, tức dựng một môi trường của niềm tin, sự tôn trọng và tinh thần đối tác, đồng thời quản lý nhu cầu cùng kỳ vọng của các bên liên quan. Người học được yêu cầu nghĩ như một người quản lý khách hàng chứ không như một người sản xuất nội dung. Vì môn được thực hành qua các case study và một buổi họp khách hàng mô phỏng, điểm nằm ở cách bạn lý giải, đàm phán và quản lý mối quan hệ, chứ không nằm ở độ chỉn chu của bản thân sản phẩm.

Một sinh viên RMIT người Việt tìm đến MAAS khi đang dồn toàn bộ sức vào việc làm cho chiến dịch trông thật ấn tượng. Cố vấn giúp bạn ấy nhìn lại rằng bài đánh giá xoay quanh việc quản lý khách hàng, tức bảo vệ giá trị, xử lý phản đối và giữ được mối quan hệ, chứ không chỉ là trình bày sản phẩm. Khi bạn ấy chuẩn bị để lý giải các quyết định của mình dưới sự chất vấn, phần roleplay của bạn ấy đi từ mức Pass lên Distinction.


Câu hỏi2

◆ Câu hỏi 2 / 7 · Đánh giá

Bài COMM2384 thường được đánh giá qua những hình thức nào?

Trả lời thẳng: Tại RMIT Việt Nam, COMM2384 thường được đánh giá qua ba bài liên kết với nhau, gồm một case study phân tích thực hành quản lý khách hàng, một bài nhóm xây dựng account hay chiến dịch cho khách hàng, và một buổi roleplay nhóm. Roleplay là cuộc họp khách hàng mô phỏng, nơi bạn chào giải pháp, báo giá, lý giải và đàm phán phần việc của mình.

Buổi roleplay kiểm tra xem bạn có bảo vệ được kế hoạch ngay tại chỗ hay không, chứ không chỉ kiểm tra khả năng viết kế hoạch ra giấy. Hãy luôn xác nhận đề bài và trọng số cụ thể trên Canvas của chính lớp bạn, vì chi tiết đánh giá thay đổi theo học kỳ.

Bài đánh giá ở RMIT chấm theo tham chiếu tiêu chí (criterion-referenced), nghĩa là bài của bạn được chấm dựa trên các tiêu chí rubric đã công bố chứ không xếp hạng so với bạn cùng lớp. Buổi roleplay tưởng thưởng việc trả lời câu hỏi, xử lý phản đối và lý giải quyết định ngay trong lúc đang đứng nói, nên các tiêu chí coi trọng sự chuẩn bị và lập luận hơn một bài thuyết trình đã học thuộc.

Một nhóm nộp kế hoạch viết rất chắc tay, rồi cứng người trong buổi roleplay khi "khách hàng" chất vấn về giá. Cố vấn MAAS chỉ cho nhóm thấy dòng rubric tưởng thưởng đàm phán và lý giải dưới áp lực, thứ mà thiết kế slide đẹp đến mấy cũng không cứu được. Kế hoạch của nhóm không có vấn đề, còn cuộc trao đổi với khách hàng thiếu chuẩn bị mới là chỗ khiến nhóm mất điểm.


Câu hỏi3

◆ Câu hỏi 3 / 7 · Chấm điểm

Bài COMM2384 được chấm ra sao, và rubric tưởng thưởng điều gì?

Trả lời thẳng: Rubric của COMM2384 tưởng thưởng bốn điều, đại khái theo thứ tự sau, gồm hiểu và áp dụng nguyên tắc quản lý account và quản lý quan hệ vào case, khả năng lý giải và bảo vệ quyết định kể cả về giá và giá trị, khả năng đàm phán và quản lý kỳ vọng khi bị chất vấn, và cuối cùng là làm việc nhóm cùng giao tiếp chuyên nghiệp.

Một sản phẩm chỉn chu mà bạn không bảo vệ được thì nhận ít điểm, còn một lập trường được lý giải tốt và đàm phán điềm tĩnh thì nhận nhiều điểm nhất. Bước nhảy từ Credit lên Distinction gần như luôn nằm ở khả năng lập luận và thích ứng, không nằm ở cách trình bày.

Bài COMM2384 dải thấp và dải cao khác nhau thế nào ở bốn trọng tâm rubric

Mỗi hàng đặt một trọng tâm rubric cạnh điều bài dải thấp làm và điều bài dải cao làm, lấy từ bảng trong bài này.

Trọng tâm rubric

Bài dải thấp làm gì và bài dải cao làm gì

Quan hệ khách hàng

Dải thấp nêu lại brief của khách. Dải cao áp nguyên tắc quản lý quan hệ để dựng niềm tin và tinh thần đối tác.

Giá trị và định giá

Dải thấp trình bày các sản phẩm sẽ giao. Dải cao lý giải vì sao phần việc đáng với mức giá đó đối với khách.

Xử lý phản đối

Dải thấp nhắc lại kế hoạch ban đầu. Dải cao đàm phán và điều chỉnh mà vẫn giữ được mối quan hệ.

Các bên liên quan

Dải thấp kể tên những người liên quan. Dải cao quản lý các kỳ vọng khác nhau giữa các bên.

Bảng trong bài viết này.
Lưu hình nàyTrọng tâm rubric COMM2384, dải thấp và dải cao: quan hệ khách hàng, giá trị và định giá, xử lý phản đối, các bên liên quan

Rubric khối truyền thông của RMIT dùng các dải tiêu chí gắn với thang điểm chung của trường, với Pass từ 50 đến 59%, Credit từ 60 đến 69%, Distinction từ 70 đến 79% và High Distinction từ 80% trở lên. Các dải cao được định nghĩa bằng ngôn ngữ đánh giá như "critically applies relationship management" (vận dụng quản lý quan hệ có phản biện), "justifies value" (lý giải được giá trị), "manages expectations" (quản lý được kỳ vọng) và "negotiates effectively" (đàm phán hiệu quả). Một sinh viên giao được kế hoạch nhưng không xử lý nổi một thách thức từ khách hàng thì không chạm tới được những dải ấy, dù bài làm đẹp đến đâu.

Trọng tâm rubric Mô tả (dải thấp) Quản lý và lý giải (dải cao)
Quan hệ khách hàng Nêu lại brief của khách Áp nguyên tắc quản lý quan hệ để dựng niềm tin và tinh thần đối tác
Giá trị và định giá Trình bày các sản phẩm sẽ giao Lý giải vì sao phần việc đáng với mức giá đó đối với khách
Xử lý phản đối Nhắc lại kế hoạch ban đầu Đàm phán và điều chỉnh mà vẫn giữ được mối quan hệ
Các bên liên quan Kể tên những người liên quan Quản lý các kỳ vọng khác nhau giữa các bên

Một cố vấn MAAS chạy một buổi họp khách hàng giả rồi tô màu từng câu trả lời của sinh viên, màu xanh cho câu lý giải có ý thức giữ quan hệ, màu đỏ cho câu phòng thủ hay học thuộc. Gần như toàn bộ câu trả lời mang màu đỏ. Sau một lượt luyện tập tập trung vào lý giải giá trị một cách điềm tĩnh, phần roleplay của chính sinh viên đó tăng trọn hai dải điểm.


Câu hỏi4

◆ Câu hỏi 4 / 7 · Khung lý thuyết

Nên dùng khung lý thuyết và khái niệm nào trong COMM2384?

Trả lời thẳng: Hãy neo bài vào các khái niệm đã được thiết lập thay vì ứng biến, gồm quản lý quan hệ mà Ledingham và Bruning (2000) phát triển, bốn chiều quan hệ của Hon và Grunig (1999), thực hành account management, đàm phán dựa trên nguyên tắc của Fisher, Ury và Patton (2011), và quản lý các bên liên quan theo Freeman (2010). Sau đó chọn khái niệm khớp nhất với case để áp dụng.

Đừng chỉ gọi tên các khái niệm. Bốn chiều mà Hon và Grunig (1999) đặt ra là niềm tin (trust), sự tương hỗ trong kiểm soát (control mutuality), cam kết (commitment) và sự hài lòng (satisfaction), còn Ledingham và Bruning (2000) phát triển quản lý quan hệ thành một trường phái thực hành trong quan hệ công chúng. Account management coi người làm nghề là cầu nối giữa khách hàng và đội thực thi, và Young (2014) xem công việc này như hoạch định truyền thông tích hợp. Đàm phán dựa trên nguyên tắc tách con người khỏi vấn đề và tập trung vào lợi ích thay vì lập trường, còn quản lý các bên liên quan theo nghĩa Freeman (2010) trình bày giúp bạn xử lý những kỳ vọng mâu thuẫn nhau.

Người chấm công nhận những khái niệm này vì chúng biến chuyện "đối xử tử tế với khách" thành thứ bạn phân tích và bảo vệ được. Bộ hướng dẫn của Hon và Grunig định nghĩa niềm tin trong một câu gọn: "One party's level of confidence in and willingness to open oneself to the other party" (Hon & Grunig, 1999), tức mức độ tin tưởng của một bên và sự sẵn lòng mở lòng với bên kia. Định nghĩa này đủ cụ thể để bạn đối chiếu với một hành động thật trong case study, thay vì chỉ dùng "niềm tin" như một tính từ. Bốn chiều mà Hon và Grunig (1999) đưa ra chỉ hữu ích khi bạn lập luận bằng cách nào một hành động cụ thể dựng được niềm tin hay sự tương hỗ trong kiểm soát, và chính lập luận đó là phần phân tích mà rubric tưởng thưởng.

Một sinh viên RMIT người Việt từng mô tả các lần tương tác với khách hàng là "giữ cho khách vui". Cố vấn MAAS đề nghị bạn ấy nhìn lại từng lần tương tác qua các chiều của mối quan hệ, xem hành động nào dựng niềm tin, hành động nào quản lý kỳ vọng, và qua lăng kính đàm phán dựa trên lợi ích. Vẫn những lần tương tác ấy, nay được phân tích đối chiếu với lý thuyết, đã nâng điểm case study của bạn ấy lên hai dải.


Câu hỏi5

◆ Câu hỏi 5 / 7 · Bài nộp

Nên cấu trúc các bài nộp của COMM2384 như thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy xem case study, bài nhóm và roleplay như một mạch liền nhau. Ở case study, bạn phân tích thực hành quản lý khách hàng đối chiếu với lý thuyết quản lý quan hệ và account management. Ở bài nhóm, bạn xây một account hay chiến dịch có mối quan hệ khách hàng nằm sẵn trong thiết kế, chứ không phải một phần gắn thêm vào cuối. Ở roleplay, bạn lường trước phản đối.

Theo Young (2014), bài nhóm nên được hoạch định như một khối truyền thông tích hợp thay vì một chuỗi chiến thuật rời rạc. Ở roleplay, bạn chuẩn bị để chào giải pháp, lý giải giá trị và mức giá, lường trước các phản đối và đàm phán mà vẫn giữ được mối quan hệ. Chỉnh sửa đáng giá nhất là chuẩn bị sẵn các lý giải và những phản đối có thể gặp, để buổi họp khách hàng có lập luận chứ không phải ứng biến.

RMIT tưởng thưởng "logical, well-supported reasoning", tức lập luận hợp lý và có cơ sở vững, và buổi họp khách hàng chính là nơi lập luận ấy bị kiểm tra trực tiếp. Chuẩn bị các lý giải và lường trước phản đối chính là thứ tách một buổi roleplay đạt Distinction khỏi một kế hoạch sụp đổ ngay trước câu hỏi khó đầu tiên.

Một nhóm từng soạn bài chào rất bóng bẩy nhưng không chuẩn bị câu trả lời cho những phản đối dễ đoán. Cố vấn của nhóm chạy hai buổi họp giả, buộc nhóm lý giải về giá và phạm vi công việc hết lần này tới lần khác. Nhóm không đổi gì trong kế hoạch, nhưng sự chuẩn bị để bảo vệ nó đã biến một buổi roleplay chông chênh thành một buổi vững vàng.


Câu hỏi6

◆ Câu hỏi 6 / 7 · Lỗi hay gặp

Sinh viên Việt Nam thường mắc những lỗi gì ở COMM2384?

Trả lời thẳng: Những lỗi lặp lại gồm dồn sức vào sản phẩm mà bỏ quên mối quan hệ, không lý giải được giá hay giá trị khi bị hỏi, coi phản đối là xung đột thay vì đàm phán theo tinh thần của Fisher và cộng sự (2011), mô tả thay vì phân tích tương tác với khách theo lý thuyết quan hệ của Ledingham và Bruning (2000), và chỉ soạn một bài chào học thuộc.

Mỗi lỗi trên đều làm mất điểm ngay cả khi bản thân chiến dịch rất tốt, vì chúng chạm vào đúng những tiêu chí mà dải điểm cao đòi hỏi. Vì môn chấm theo tham chiếu tiêu chí và lấy mối quan hệ làm trục, người chấm trừ điểm những bài không bảo vệ được trong một cuộc trao đổi với khách hàng và tưởng thưởng cách quản lý có lý giải, biết thích ứng. Một sinh viên trình bày đẹp nhưng không giải thích được vì sao phần việc xứng với mức giá của nó thì mới làm xong phần giao sản phẩm, chưa giành được điểm của phần quản lý khách hàng.

Một sinh viên Việt Nam trong buổi roleplay gặp thách thức về giá và lập tức hạ giá. Cố vấn MAAS không viết lại kế hoạch cho bạn ấy, mà chỉ hỏi một câu, "giá trị nào với khách hàng biện minh cho mức giá này, và bạn sẽ giải thích nó ra sao trước khi nhượng bộ?", rồi để bạn ấy tự dựng lại phần đàm phán. Thay đổi đó bền, vì chính bạn ấy đã tự lập luận để đi tới nó.


Câu hỏi7

◆ Câu hỏi 7 / 7 · Cố vấn MAAS

Cố vấn MAAS đồng hành với bạn ở COMM2384 mà không vượt lằn ranh như thế nào?

Trả lời thẳng: Cố vấn MAAS làm việc cùng bạn, không làm thay bạn. Cố vấn giúp bạn giải mã đề bài và rubric, áp lý thuyết quan hệ và đàm phán vào case, chạy các buổi họp khách hàng giả để bạn luyện lý giải và đàm phán, và chỉ ra chỗ bạn đang mô tả thay vì phân tích một mối quan hệ. Bạn giữ quyền tác giả với mọi phân tích, kế hoạch và cuộc đàm phán.

Vai trò của cố vấn là nâng trần những gì bạn tự bảo vệ được, chứ không đứng ra bảo vệ thay bạn.

Vì COMM2384 được chấm dựa trên quản lý quan hệ có lý giải chứ không dựa trên độ bóng của sản phẩm, lợi ích lâu dài đến từ việc hiểu account management, các chiều quan hệ của Hon và Grunig (1999) và lối đàm phán dựa trên nguyên tắc của Fisher và cộng sự (2011). Những thứ này đủ chắc để dùng lại trong kỳ thực tập hay trong một vị trí truyền thông, nơi quản lý khách hàng chính là công việc hằng ngày. Sự đồng hành xây được lối lập luận ấy mới là thứ nâng điểm, và quan trọng hơn, là thứ còn theo bạn vào sự nghiệp.

Một sinh viên RMIT người Việt đến với MAAS khi trình bày được nhưng chưa đàm phán được. Qua vài buổi, cố vấn MAAS chạy đi chạy lại các buổi họp khách hàng giả cho tới khi việc lý giải giá trị và xử lý phản đối trở nên tự nhiên với bạn ấy. Bạn ấy tự chuẩn bị và tự thực hiện buổi roleplay, điểm số tăng lên, và sự tự tin khi bước vào cuộc họp khách hàng thật đầu tiên trong kỳ thực tập cũng tăng theo.


Câu hỏi thường gặp

COMM2384 có khó với du học sinh không?

Phần kế hoạch thì làm được, cái khó nằm ở việc bảo vệ nó. Nhiều sinh viên trình bày tốt nhưng mất điểm vì không lý giải được giá trị hoặc không đàm phán được khi khách hàng phản đối trong buổi họp. Luyện các cuộc trao đổi giả với khách hàng sẽ thu hẹp phần lớn khoảng cách đó.

Account management trong COMM2384 là gì?

Account management là đóng vai cầu nối giữa khách hàng và đội thực thi: hiểu nhu cầu của khách, quản lý kỳ vọng và duy trì một mối quan hệ dựa trên niềm tin, sự tôn trọng và tinh thần đối tác. Đây là lăng kính cốt lõi của cả môn học.

Bài roleplay trong COMM2384 là gì?

Roleplay là một cuộc họp khách hàng mô phỏng, nơi nhóm bạn chào giải pháp, báo giá, lý giải và đàm phán phần việc của mình ngay tại chỗ. Bài này kiểm tra xem bạn có bảo vệ được kế hoạch khi bị chất vấn hay không, chứ không chỉ kiểm tra khả năng viết kế hoạch, nên chuẩn bị các lý giải và những phản đối có thể gặp là việc quan trọng nhất.

MAAS có làm bài COMM2384 thay tôi không?

Không. MAAS không viết thay bạn, mà đồng hành và góp ý. Cố vấn giúp bạn giải mã rubric, vận dụng lý thuyết và luyện buổi họp khách hàng, còn bạn vẫn là tác giả và người thực hiện mọi phân tích, kế hoạch và cuộc đàm phán mà bạn nộp.

Tôi nên chuẩn bị cho buổi họp khách hàng như thế nào?

Hãy lường trước những câu hỏi khó nhất, đặc biệt về giá và phạm vi công việc, chuẩn bị một lời lý giải dựa trên giá trị cho từng câu, và luyện đàm phán mà không nhượng bộ ngay lập tức. Một buổi họp giả với cố vấn hoặc với bạn cùng nhóm là cách chuẩn bị hiệu quả nhất.

Tôi chỉ cần hỗ trợ phần đàm phán thì có dùng MAAS được không?

Được. Nhiều sinh viên đặt một buổi ngắn để chạy thử một cuộc họp khách hàng giả, luyện lý giải giá trị và xử lý phản đối, rồi tự hoàn thành phần còn lại của bài.


MAAS đồng hành với sinh viên COMM2384 ra sao

Nếu bạn đang làm bài COMM2384 Client Management và muốn có một hướng đi rõ ràng hơn, MAAS có buổi tư vấn miễn phí 20 phút để cùng bạn xem đề bài và phác thảo cách làm. Hãy mang theo đề bài, MAAS sẽ ghép bạn với một cố vấn đúng chuyên môn trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người phù hợp. Nếu chưa có, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho hồ sơ của bạn, việc này thường mất khoảng 2 tuần. Khoảng 23% chuyên gia của MAAS có bằng tiến sĩ, và các cố vấn mảng truyền thông là những người hành nghề giàu kinh nghiệm, làm việc cùng bạn để nâng những gì bạn tự bảo vệ được, không bao giờ viết bài thay bạn.

Đọc thêm: xem các hướng dẫn của MAAS về COMM2381 Communication Strategy and Planning và COMM2789 Digital Content Creation, cùng dịch vụ hỗ trợ học thuật để hiểu cách đồng hành vận hành từ đầu tới cuối.


References

Ledingham, J. A., & Bruning, S. D. (Eds.). (2000). Public relations as relationship management: A relational approach to the study and practice of public relations. Lawrence Erlbaum Associates.

Fisher, R., Ury, W., & Patton, B. (2011). Getting to yes: Negotiating agreement without giving in (3rd ed.). Penguin Books.

Freeman, R. E. (2010). Strategic management: A stakeholder approach. Cambridge University Press.

Hon, L. C., & Grunig, J. E. (1999). Guidelines for measuring relationships in public relations. Institute for Public Relations.

Young, A. (2014). Brand media strategy: Integrated communications planning in the digital era (2nd ed.). Palgrave Macmillan.

Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về việc bạn đang ở đâu với COMM2384.

Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸
Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Mục lục