Skip to content
Quay lại BlogPhD Admissions

Cách viết recommendation letter cho hồ sơ du học ra sao?

16 phút đọc3,167 từNEW

Giảng viên hay quản lý được nhờ viết recommendation letter bằng tiếng Anh cho hồ sơ du học sẽ biết cách viết, còn ứng viên biết nên xin thư ra sao.

Nội dung dựa trên hướng dẫn dành cho người giới thiệu của Cambridge, Leeds, Waterloo, Chevening và University of Chicago, cùng một hướng dẫn viết thư đăng trên The FEBS Journal và một nghiên cứu của Educational Testing Service về văn bản trong thư giới thiệu vào cao học.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-09-30
Chuyên mục: admissions

Một sinh viên và một giảng viên trao đổi bên máy tính xách tay trong lớp học
Ảnh minh hoạ

Một recommendation letter tốt gồm những phần nào?

Trả lời thẳng: Một lá thư tốt mở bằng lời chào và phần tự giới thiệu của người viết, tiếp theo là vài đoạn thân, mỗi đoạn nói về một điểm mạnh của ứng viên có ví dụ đi kèm, rồi khép lại bằng lời ủng hộ rõ ràng và cách liên hệ với người viết. University of Chicago, Career Advancement (n.d.) và Sarabipour và cộng sự (2022) mô tả bố cục này gần như giống nhau.

Người viết thường bắt đầu từ một trang trắng, nên một bố cục có sẵn giúp họ biết đặt từng thông tin vào đâu. University of Chicago, Career Advancement (n.d.) đề xuất lời chào, rồi một đoạn mở giới thiệu người viết cùng quan hệ với ứng viên, thời gian biết nhau và hai đến ba điểm mạnh, sau đó hai đến ba đoạn thân, mỗi đoạn dành cho một điểm mạnh với một đến hai ví dụ hoặc câu chuyện, và cuối cùng là đoạn kết nhắc lại các điểm mạnh, khẳng định sự ủng hộ, mời liên hệ, kèm chữ ký và chức danh.

Sarabipour và cộng sự (2022) mô tả một bố cục tương tự và nhấn mạnh thêm hai điều. Thân thư nên nêu thông tin cụ thể và trả lời đúng các tiêu chí của nơi nhận, và người viết không nên nêu điểm số trừ khi để chỉ ra một điểm đặc biệt, chẳng hạn ứng viên duy nhất đạt điểm cao nhất lớp. Nhóm tác giả cũng khuyên không dành nhiều chỗ cho điểm yếu của ứng viên vì nó có thể gây hại nhiều hơn người viết dự định, và cảnh báo hiệu ứng Forer, tức những mô tả chung chung đến mức ai đọc cũng thấy đúng với mình nên không giúp hội đồng phân biệt ứng viên này với ứng viên khác.

University of Cambridge (n.d.) gợi ý một cách khác là dùng các mục làm tiêu đề ngay trong thư, gồm kết quả dự kiến và điểm tạm thời với ứng viên chưa tốt nghiệp, tiềm năng học thuật trong chương trình, đặc điểm trí tuệ, động lực, khả năng quản lý nhiệm vụ và thời gian, hiệu quả khi làm sinh viên qua cách tiếp thu phản hồi, và ý kiến tóm tắt về việc người viết có muốn hướng dẫn sinh viên này hay không. Trường cũng dặn người viết không bàn về các đặc điểm được bảo vệ như sắc tộc, xu hướng tính dục hay khuyết tật.

Bảng dưới đây gom các phần trên lại để người viết dùng làm danh sách kiểm tra.

Phần của thư Nội dung cần có Nguồn
Lời chào Lời chào mở đầu thư University of Chicago, Career Advancement (n.d.)
Đoạn mở Người viết là ai, biết ứng viên trong vai trò nào và bao lâu, mục đích của thư, hai đến ba điểm mạnh nổi bật Sarabipour và cộng sự (2022), University of Chicago, Career Advancement (n.d.)
Thân thư Hai đến ba đoạn, mỗi đoạn một điểm mạnh với ví dụ cụ thể, câu so sánh nêu rõ nhóm đối chiếu, nội dung trả lời các tiêu chí của nơi nhận Sarabipour và cộng sự (2022)
Đoạn kết Ý kiến tóm tắt, tuyên bố ủng hộ rõ ràng, lời mời liên hệ kèm email và số điện thoại Sarabipour và cộng sự (2022)
Chữ ký Tên và chức danh người viết, với Cambridge thì thư tải lên ở dạng PDF có ký và ghi ngày University of Chicago, Career Advancement (n.d.), University of Cambridge (n.d.)

Sarabipour và cộng sự (2022) nhắc tới ba lỗi cần tránh là chép lại nội dung CV, nêu điểm số khi không cần và dành nhiều dung lượng cho điểm yếu. Người viết nên xem CV để hiểu ứng viên, còn thư thì nên nói điều mà CV không nói được, tức là người viết đã tận mắt thấy ứng viên làm gì.

Lá thư nên dài bao nhiêu?

Trả lời thẳng: Độ dài phụ thuộc vào nơi nhận, nên bước đầu tiên là đọc hướng dẫn dành cho người giới thiệu của chính chương trình. University of Cambridge (n.d.) cho biết thư khoảng 500 đến 1.000 từ là hiệu quả nhất, University of Chicago, Career Advancement (n.d.) nhắm tới một trang cho phần lớn thư, còn Chevening (n.d.) chỉ cần một lời chứng ngắn. Ba mức này không quy đổi được cho nhau.

Bảng so sánh độ dài thư giới thiệu theo ba nơi nhận là University of Cambridge, University of Chicago và Chevening
Ba mức này không quy đổi được cho nhau, nên người viết cần đọc hướng dẫn của chính chương trình.

University of Cambridge (n.d.) viết rằng "Longer references will not give additional help", nghĩa là thư dài hơn mức đó không giúp thêm gì cho ứng viên, và trường cũng cảnh báo thư quá ngắn có thể bất lợi cho sinh viên. Cambridge còn quy định thư phải bằng tiếng Anh, ở dạng PDF không quá 2MB, có ký và ghi ngày.

Con số của Cambridge và của University of Chicago, Career Advancement (n.d.) không mâu thuẫn với nhau vì chúng thuộc hai bối cảnh khác nhau. Một bên là hướng dẫn cho người viết thư vào chương trình sau đại học của một trường ở Anh, bên kia là hướng dẫn chung của trung tâm hướng nghiệp một trường ở Mỹ. Ở đầu ngắn hơn của khoảng này, Chevening (n.d.) mong đợi một lời chứng ngắn về kỹ năng lãnh đạo và kết nối, phẩm chất cá nhân và khả năng làm việc với người khác, cùng khả năng hoàn thành một chương trình học khắt khe ở Anh.

Vì vậy giảng viên hay quản lý ở Việt Nam không nên đoán một độ dài chung, và cũng không nên quy đổi 500 đến 1.000 từ thành số trang. Cách chắc chắn hơn là xin ứng viên đường dẫn tới trang hướng dẫn dành cho người giới thiệu của chương trình rồi viết theo đó.

Vì sao câu so sánh với các sinh viên khác quan trọng?

Trả lời thẳng: Hội đồng tuyển sinh không biết thang chấm của người viết, nên một câu xếp hạng chỉ có giá trị khi nêu rõ nhóm đối chiếu. Sarabipour và cộng sự (2022) lấy ví dụ dạng "nằm trong nhóm 5% sinh viên đại học tôi từng dạy", còn University of Cambridge (n.d.) hỏi thẳng cỡ nhóm dùng để so sánh. Nếu khó xếp hạng toàn diện thì so sánh ở từng mặt cụ thể.

Sarabipour và cộng sự (2022) khuyên rằng nếu người viết nêu thứ hạng thì phải nói rõ so với nhóm nào. Khi không thể xếp hạng ứng viên một cách toàn diện, người viết có thể so sánh ở từng mặt riêng như khả năng diễn đạt rõ ràng, tính độc đáo hoặc sự tò mò trí tuệ.

Heilman và cộng sự (2015) mô tả các biểu mẫu trong bộ dữ liệu họ phân tích, dùng thang gồm thấp hơn trung bình, trung bình, trên trung bình, xuất sắc (5% cao nhất) và thực sự đặc biệt (1% cao nhất).

Với giảng viên ở Việt Nam, điều này có nghĩa là câu "sinh viên giỏi nhất khoá" nên đi kèm quy mô của khoá đó và số khoá mà người viết đã dạy, vì hội đồng ở nước ngoài không biết cách xếp loại trong trường của bạn.

Làm sao để lá thư không chỉ toàn lời khen chung chung?

Trả lời thẳng: Cách hiệu quả nhất là gắn mỗi điểm mạnh với một tình huống cụ thể mà người viết trực tiếp chứng kiến. Heilman và cộng sự (2015) gán nhãn một tập câu đánh giá lấy từ các phiếu của 7.035 ứng viên và thấy khoảng 70% chung chung, 21% cụ thể nhưng chưa có ví dụ, 9% có ví dụ. Đây là phiếu có cấu trúc nên con số không áp thẳng cho thư viết tự do.

Chính Heilman và cộng sự (2015) lưu ý rằng phiếu có cấu trúc có thể ngắn hơn thư viết tự do, nên tỷ lệ 70%, 21% và 9%, tính trên khoảng 3.516 câu trong tập huấn luyện đã gán nhãn, rút từ phiếu của 7.035 ứng viên, chỉ cho thấy xu hướng chứ không phải mức đo của mọi lá thư. Nhóm tác giả cũng ghi nhận người viết ít biết ứng viên thường dùng ngôn ngữ chung chung, điều này khớp với lời khuyên của Sarabipour và cộng sự (2022) là người viết phải đủ hiểu ứng viên thì mới nêu được chi tiết thật.

Sarabipour và cộng sự (2022) khuyên người viết gặp ngắn với ứng viên trước khi viết để lấp các khoảng trống, hiểu vì sao họ xin chương trình này, và không chép lại nội dung CV.

Để thấy khác biệt, hãy so hai câu minh hoạ sau. Câu "Em là sinh viên chăm chỉ và có trách nhiệm" đúng với rất nhiều ứng viên nên không cho hội đồng thêm thông tin nào. Câu "Trong học kỳ em làm trợ lý cho nhóm nghiên cứu của tôi, em tự phát hiện sai lệch trong số liệu đo và đề xuất cách kiểm tra lại mà tôi chưa nghĩ tới" cho hội đồng một chi tiết có thể kiểm chứng và một dấu hiệu rõ ràng về tư duy nghiên cứu.

Có nên nhận lời viết thư cho một học trò mình ít biết không?

Trả lời thẳng: Nếu không thể ủng hộ ứng viên bằng những chi tiết cụ thể thì nên nói rõ và từ chối. Sarabipour và cộng sự (2022) viết rằng nếu phải đọc CV mới biết ứng viên là ai thì có thể người viết chưa đủ tư cách, và thư tích cực nhưng chung chung có thể phản tác dụng cho cả hai bên. University of Cambridge (n.d.) cũng cho rằng báo sớm cho ứng viên là công bằng hơn.

Nếu nhận lời, người viết nên xin ứng viên các tài liệu đã nộp cho chương trình, đường dẫn tới chương trình, yêu cầu riêng của nơi nhận, những bài tập hoặc dự án ứng viên đã làm với mình, cùng hướng dẫn và hạn nộp. Danh sách này đến từ University of Chicago, Career Advancement (n.d.), và trang đó nói rõ ứng viên có trách nhiệm nhờ trong khoảng thời gian hợp lý. University of Waterloo (n.d.) khuyên báo người viết ít nhất 4 tuần trước hạn.

Có một tình huống mà bài này cố ý không hướng dẫn, đó là khi người viết đề nghị ứng viên tự soạn lá thư rồi mình ký. University of Waterloo (n.d.) cho biết mọi biểu mẫu thư đều được xác minh tính xác thực và trường có quyền thu hồi thư mời nhập học cùng hỗ trợ tài chính nếu phát hiện giả mạo. Phần cân nhắc khi gặp đề nghị như vậy được trình bày ở bài người viết thư giới thiệu tiến sĩ thật ra cần biết gì từ ứng viên, và người viết thư nên đọc nó trước khi trả lời.

Mỗi nơi nhận có cách nộp thư giới thiệu khác nhau thế nào?

Trả lời thẳng: Cách nộp khác nhau theo từng nơi nên ứng viên cần đọc hướng dẫn nộp hồ sơ trước khi nhờ người viết. University of Cambridge (n.d.) nhận thư bảo mật do người viết gửi, University of Leeds (n.d.) yêu cầu gửi từ email cơ quan, University of Waterloo (n.d.) xác minh biểu mẫu, còn Chevening (n.d.) để ứng viên tải thư lên và đòi bản dịch công chứng nếu thư không viết bằng tiếng Anh.

Bốn nơi nhận dưới đây chỉ là ví dụ, và mỗi chương trình hay học bổng khác có thể đặt luật khác.

  • Cambridge: University of Cambridge (n.d.) đề nghị ứng viên cung cấp email học thuật của người viết, thường có đuôi .ac hoặc .edu, và nếu không có thì người viết dùng giấy có tiêu đề của cơ quan kèm thông tin liên hệ đầy đủ. Thư được gửi trong chế độ bảo mật, ứng viên không xem được, và nếu thư quá hạn thì hồ sơ bị rút.
  • Leeds: University of Leeds (n.d.) phân biệt thư học thuật do giảng viên hoặc người hướng dẫn viết và thư nghề nghiệp do quản lý viết, không phải do đồng nghiệp. Người viết không được là người thân và phải gửi từ email cơ quan chứ không dùng email cá nhân.
  • Waterloo: University of Waterloo (n.d.) thường yêu cầu 2 thư cho thạc sĩ và 3 thư cho tiến sĩ, và không nhận thư từ người thân, bạn bè, bạn cùng lớp, đồng nghiệp hay trợ giảng.
  • Chevening: Chevening (n.d.) cần tên hai người giới thiệu trong hồ sơ, và nếu ứng viên vào vòng phỏng vấn thì phải tải hai thư lên chậm nhất bảy ngày làm việc trước ngày phỏng vấn. Thư phải bằng tiếng Anh, và nếu viết bằng ngôn ngữ khác thì phải kèm bản dịch tiếng Anh có công chứng trong cùng một tệp, còn không có bản dịch công chứng thì thư không được nhận.

Với người viết ở Việt Nam, hai chi tiết đáng nhớ nhất là email cơ quan và bản dịch. Leeds không chấp nhận email cá nhân, còn Chevening không nhận một lá thư tiếng Việt nếu thiếu bản dịch tiếng Anh có công chứng, nên ứng viên cần biết điều này trước khi nhờ người viết bằng tiếng mẹ đẻ.

Câu hỏi thường gặp

Cần bao nhiêu thư giới thiệu cho một hồ sơ?
Tuỳ chương trình. University of Waterloo (n.d.) thường yêu cầu 2 thư cho thạc sĩ và 3 thư cho tiến sĩ, còn Chevening (n.d.) cần tên hai người giới thiệu trong hồ sơ. Ứng viên nên đọc trang yêu cầu của chính chương trình để biết con số chính xác.

Ai được phép viết thư giới thiệu?
University of Leeds (n.d.) cho phép giảng viên hoặc người hướng dẫn viết thư học thuật và quản lý trực tiếp viết thư nghề nghiệp, nhưng không cho người thân và không cho đồng nghiệp thay quản lý. University of Waterloo (n.d.) không nhận thư từ người thân, bạn bè, bạn cùng lớp, đồng nghiệp hay trợ giảng.

Thư giới thiệu viết bằng tiếng Việt có dùng được không?
Không nên mặc định là được. University of Cambridge (n.d.) yêu cầu thư bằng tiếng Anh, còn Chevening (n.d.) chấp nhận thư bằng ngôn ngữ khác chỉ khi kèm bản dịch tiếng Anh có công chứng trong cùng một tệp. Với các chương trình khác, ứng viên cần tra hướng dẫn riêng vì bài này chưa kiểm tra hết.

Nên nhờ người giới thiệu trước bao lâu?
University of Waterloo (n.d.) khuyên báo người viết ít nhất 4 tuần trước hạn nộp. University of Leeds (n.d.) đề nghị người viết gửi thư càng sớm càng tốt, thường trong hai tuần làm việc, nên nhờ sớm hơn mốc đó sẽ an toàn hơn.

Ứng viên có được đọc thư giới thiệu không?
Còn tuỳ nơi nhận. University of Cambridge (n.d.) gửi thư trong chế độ bảo mật và không cho sinh viên xem, còn ở Chevening (n.d.) thì người viết trả lá thư về cho ứng viên để tải lên. Vì vậy ứng viên nên hỏi trước cách nộp của chương trình mình chọn.

MAAS có vai trò gì với thư giới thiệu?
Thư giới thiệu do người giới thiệu tự viết và tự ký, nên MAAS không thay họ ở phần này. MAAS tư vấn phần hồ sơ do chính ứng viên viết như Statement of Purpose và personal statement, cùng chiến lược hồ sơ và luyện phỏng vấn, và bạn vẫn là người viết từng câu chữ. MAAS không hứa kết quả nhập học hay học bổng vì quyết định đó thuộc về trường.

Nên làm gì tiếp theo

Nếu bạn là người được nhờ viết, hãy ghi tên chương trình, hạn nộp, độ dài cho phép và cách nộp ở đầu trang ghi chú trước khi viết câu đầu tiên, rồi kiểm lại từng đoạn thân xem đã có tình huống cụ thể và câu so sánh nêu rõ nhóm đối chiếu chưa. Nếu bạn là ứng viên, hãy gửi cho người viết đường dẫn hướng dẫn của nơi nhận cùng các tài liệu hồ sơ của mình ít nhất bốn tuần trước hạn.

Thư giới thiệu chỉ là một phần của hồ sơ, và phần còn lại do bạn tự viết. Nếu bạn muốn có người đọc bản nháp Statement of Purpose hoặc personal statement, góp ý và cùng bạn chuẩn bị phỏng vấn, MAAS đồng hành ở đúng phần đó. Buổi tư vấn đầu tiên miễn phí kéo dài 15 phút, và toàn bộ phạm vi công việc nằm ở trang dịch vụ Tư vấn SOP và personal statement du học.

Đọc tiếp

References

Chevening. (n.d.). References. Retrieved September 30, 2026, from https://www.chevening.org/resource-hub/guidance/references/

Heilman, M., Breyer, F. J., Williams, F., Klieger, D., & Flor, M. (2015). Automated analysis of text in graduate school recommendations (ETS Research Report No. RR-15-23). Educational Testing Service. https://doi.org/10.1002/ets2.12070

Sarabipour, S., Hainer, S. J., Furlong, E., Jadavji, N. M., de Winde, C. M., Bielczyk, N., & Shah, A. P. (2022). Writing an effective and supportive recommendation letter. The FEBS Journal, 289(2), 298–307. https://doi.org/10.1111/febs.15757

University of Cambridge. (n.d.). Guidance for academic referees. Retrieved September 30, 2026, from https://www.postgraduate.study.cam.ac.uk/apply/how/academic-referees

University of Chicago, Career Advancement. (n.d.). Writing letters of recommendation. Retrieved September 30, 2026, from https://careeradvancement.uchicago.edu/advanced-degrees/advanced-degree-resources/writing-letters-of-recommendation/

University of Leeds. (n.d.). References for postgraduate research applications. Retrieved September 30, 2026, from https://www.leeds.ac.uk/research-applying/doc/references-postgraduate-research-applications

University of Waterloo. (n.d.). References. Retrieved September 30, 2026, from https://uwaterloo.ca/future-graduate-students/admissions/how-to-apply/application-documents-and-materials/references

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.