Skip to content
Quay lại BlogLaw

BLAW2012: bản memo luật hợp đồng của bạn thực ra viết cho ai?

20 phút đọc3,906 từ

Bản memo BLAW2012 được viết cho một người đang phải ra quyết định kinh doanh, chứ không viết cho người chấm muốn xem bạn thuộc luật hợp đồng tới đâu, và đó là điểm khác căn bản giữa memo với bài thi của cùng môn. Bài viết này giúp bạn viết cho đúng người đọc ấy, từ cách đưa kết luận lên đầu, cách dùng dữ kiện làm bằng chứng, cách thêm phần phân bổ rủi ro mà phần lớn sinh viên bỏ trống, tới cách ôn để bài thi tính giờ không bắt bạn bỏ dở giữa chừng.

BLAW2012 Applied Contract Law ở Curtin University được chấm theo một cách ngầm đòi hỏi bạn viết cho hai kiểu người đọc khác nhau. Bài thi kéo dài khoảng 2 tiếng thưởng cho người nêu và áp dụng được học thuyết pháp lý dưới áp lực thời gian, còn bài memo thưởng cho một người tư vấn đang viết cho ai đó phải ra quyết định thương mại và không có kiên nhẫn để được dạy luật hợp đồng dọc đường. Phần lớn sinh viên viết cả hai bài, có khi chỉ cách nhau 2 tuần, như thể đầu bên kia vẫn là cùng một người đọc.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật: 18/08/2026
Chuyên mục: law

Một người đọc hợp đồng tại bàn có giấy tờ pháp lý và sổ tay
Ảnh minh hoạ

BLAW2012 học những gì?

Trả lời trực tiếp: BLAW2012 Applied Contract Law là môn do Curtin Law School của Curtin University phụ trách. Đề cương ghi trong handbook năm 2019 của Curtin University gồm hình thành, đàm phán và vận hành hợp đồng, cấu trúc hợp đồng kinh doanh, quản trị rủi ro, điều khoản chấm dứt, các chế tài và giải quyết tranh chấp, với điều kiện tiên quyết là môn luật kinh doanh nhập môn.

Bằng chứng: Curtin University là một trong những đơn vị dạy luật kinh doanh lớn nhất Tây Úc, và đọc kỹ đề cương của môn này thì nó hoàn toàn không phải một danh sách học thuyết. 2 trong 5 thành phần của nó nói về chính văn bản hợp đồng, tức các điều khoản cùng phần quản trị rủi ro và phần chấm dứt, chứ không nói về việc toà sẽ xử ra sao về sau. Một môn đặt điều khoản mẫu (boilerplate) và quản trị rủi ro thành một dòng riêng trong đề cương, bên cạnh giải quyết tranh chấp, là môn đang báo hiệu rằng câu hỏi hữu ích thường không phải ai sẽ thắng, mà là lẽ ra phải viết gì vào thoả thuận để câu hỏi ấy không bao giờ phát sinh.

Ví dụ: Một sinh viên người Việt học ở Curtin, sau 6 tuần của học kỳ, nói với cố vấn MAAS rằng môn này giống một danh sách chủ đề rời rạc tình cờ có chung chữ hợp đồng. Cố vấn đề nghị bạn ấy viết lại 5 chủ đề đó thành một trục thời gian, từ khâu đàm phán cho tới các chế tài. Danh sách thôi trông giống một đề cương môn học và bắt đầu trông giống vòng đời của một thoả thuận, và những chủ đề sinh viên đó vẫn học thuộc rời nhau hoá ra lại nối tiếp nhau.


Môn được đánh giá thế nào, và vì sao cách chia đó quan trọng?

Trả lời trực tiếp: Curtin University công bố chi tiết đánh giá trong đề cương môn (unit outline) chứ không đưa vào handbook, nên chỉ đáng dẫn cấu trúc của một kỳ mở môn cụ thể. Ở bản dạy trực tuyến qua Open Universities Australia, phần đánh giá gồm một bài trắc nghiệm trực tuyến, một bản memo viết và một bài thi cuối kỳ, trong đó bản memo gánh phần lớn nhất của khối bài viết.

Bảng so sánh ba thành phần đánh giá BLAW2012, trắc nghiệm, memo viết và bài thi cuối kỳ, cho thấy mỗi phần thực sự kiểm điều gì và lỗi sinh viên hay mắc nhất
Ôn memo như ôn thi, hoặc ôn thi như viết memo, đều là lỗi thường gặp.

Ở bản Open Universities Australia, bài trắc nghiệm trực tuyến chiếm khoảng 10% tới 20%, bản memo dài khoảng 1.500 tới 2.500 chữ, và bài thi cuối kỳ kéo dài gần 2 tiếng. Kỳ bạn học có thể chia khác, và đề cương môn của chính kỳ đó mới là nguồn có thẩm quyền. Điều đáng mang theo từ một cách chia như vậy là chiến lược chứ không phải con số, bởi mỗi thành phần kiểm một năng lực khác nhau. Bài trắc nghiệm kiểm xem bạn có nắm quy tắc hay không, bài memo kiểm xem bạn có tư vấn được hay không, còn bài thi kiểm xem bạn làm được cả hai việc đó nhanh tới đâu.

Thành phần, ở những kỳ chia theo kiểu này Thực chất kiểm tra gì Sinh viên hay hỏng ở đâu
Trắc nghiệm Độ chính xác về quy tắc và ngoại lệ Học theo chủ đề thay vì theo yếu tố cấu thành
Memo Lời tư vấn người kinh doanh dùng được Viết thành bài luận về luật hợp đồng
Thi cuối kỳ Vận dụng học thuyết dưới áp lực thời gian Hết giờ ngay ở khâu nhận diện vấn đề

Bằng chứng: Một môn rải trọng số qua ghi nhớ, viết vận dụng và làm bài tính giờ đang cố tình không để một phương pháp học duy nhất nào đủ sức đưa sinh viên đi hết chặng, dù đó là 3 tiếng học thuộc vào đêm trước hôm thi hay một bản memo viết ra mà không có dàn ý. Ôn cho thành phần này bằng lối ôn của thành phần kia là lỗi cấu trúc phổ biến nhất, và nó vô hình cho tới lúc điểm trả về.

Ví dụ: Một sinh viên từng đạt Distinction ở môn luật trước đó, một môn 12 tín chỉ, chuẩn bị bài memo BLAW2012 theo đúng cách bạn ấy vẫn chuẩn bị essay, tức đọc rộng quanh chủ đề rồi viết bản nháp 3.000 chữ. Cố vấn phản hồi bằng cách cất phần tài liệu đọc đi và đưa lại đúng một câu hỏi, rằng thân chủ đang quyết định điều gì và điều gì sẽ khiến họ đổi ý. Bản nháp thứ hai được cắt còn 1.800 chữ, trích chưa tới một nửa số án lệ của bản đầu, và được điểm cao hơn đáng kể.


Memo khác bài luận ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Memo được viết để người ta dùng, không phải để chấm. Nó nêu câu trả lời ngay trong phần mở đầu thay vì dẫn dắt dần qua nhiều trang, nó nói cho người đọc biết nên làm gì chứ không chỉ nói luật quy định ra sao, và nó giữ phần lập luận hiện rõ nhưng đứng dưới phần khuyến nghị.

Một essay có thể dành trọn 1 trang dựng bối cảnh trước khi đi tới đâu đó mà vẫn bảo vệ được. Một bản memo làm y như vậy là đã hỏng đúng chức năng của nó, vì người đọc trong tình huống là người đang cân nhắc nên ký, nên kiện, nên hoà giải hay nên rút lui. Với memo, câu trả lời nên nằm trong 100 chữ đầu tiên.

Bằng chứng: Neumann và cộng sự (2021) vạch một ranh giới rõ giữa lối viết dự báo (predictive writing), tức tư vấn cho thân chủ về kết quả có khả năng xảy ra, và lối viết thuyết phục (persuasive writing), tức lập luận bảo vệ một quan điểm trước người có quyền quyết định. Lối viết tư vấn được kỳ vọng thẳng thắn về điểm yếu, bởi một thân chủ chỉ được nghe tin tốt thì không thể ra một quyết định thực chất. Trong một bản memo 2.000 chữ, điểm yếu thường chiếm 1 đoạn ngắn chứ không chiếm cả trang, và bản memo đọc lên như đang biện hộ cho kết quả mà thân chủ mong muốn là bản memo đã lẫn hai thể loại với nhau.

Một giáo trình viết pháp lý dạng mở nêu thẳng sự phân biệt này: "Unlike persuasive writing, the goal of predictive writing is not to convince your audience that your argument is correct." (Mangan et al., 2025, Section C5)

Ví dụ: Bản memo của một sinh viên kết luận rằng thân chủ có lập luận mạnh. Cố vấn hỏi bên kia sẽ nói gì đầu tiên, và sinh viên đó nhận ra mình chưa viết điều ấy ở bất cứ chỗ nào. Thêm 2 câu thừa nhận lập luận phản bác mạnh nhất, kèm lý do vì sao nó không làm đổi khuyến nghị, chỉ tốn 40 chữ và không làm bản memo yếu đi. Đó là khác biệt giữa một lời khẳng định và một lời tư vấn.


Xử lý dữ kiện thế nào để không thành kể lại chuyện?

Trả lời trực tiếp: Hãy dùng dữ kiện làm bằng chứng, đừng dùng làm mạch kể. Thân chủ vốn đã biết chuyện gì xảy ra, nên mở memo bằng trình tự sự việc là phí phần chỗ quý nhất. Dữ kiện nên xuất hiện đúng lúc nó làm việc pháp lý, gắn với yếu tố cấu thành mà nó thoả mãn hoặc phá vỡ, còn dữ kiện không làm việc đó chỉ là đồ trang trí.

Bằng chứng: Học thuyết hợp đồng được dựng từ các yếu tố cấu thành, và mỗi yếu tố là một chỗ mà một dữ kiện hoặc đứng được hoặc không. Paterson, Robertson và Duke (2020) sắp xếp sự thoả thuận (agreement), đối giá (consideration), ý định xác lập quan hệ pháp lý (intention) và tính xác định (certainty) thành bốn yếu tố mà toà kiểm lần lượt trước khi công nhận có một hợp đồng ràng buộc, và yếu tố nào cũng xoay quanh hành vi hoặc lời lẽ chỉ ra được, chứ không xoay quanh điều một bên thầm định trong đầu. Một bản memo mở đầu bằng 300 chữ trình tự sự việc là đã bỏ qua cấu trúc đó. Tổ chức bản memo theo các yếu tố thay vì theo trình tự sự việc là điều làm cho phần phân tích vừa để người chấm kiểm tra được vừa để thân chủ dùng được.

Ví dụ: Một sinh viên nộp bản nháp mà 600 chữ đầu tiên là kể lại vụ tranh chấp. Cố vấn xoá hẳn phần đó và đề nghị bạn ấy chỉ đưa từng dữ kiện trở lại ở chỗ nó chứng minh được điều gì. 11 dữ kiện quay lại, rải trên 4 yếu tố. Số còn lại hoá ra nằm trong bản nháp vì chúng có trong đề bài, chứ không phải vì chúng có vai trò.


Phân bổ rủi ro làm phần phân tích đổi khác ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Phân bổ rủi ro đổi cả định nghĩa thế nào là một câu trả lời tốt. Phân tích theo học thuyết hỏi vị thế của các bên ra sao khi đã vào tranh chấp, còn phân bổ rủi ro hỏi thoả thuận lẽ ra phải viết gì để vị thế ấy không bao giờ mập mờ. Các môn hợp đồng ứng dụng thường thưởng cho sinh viên làm được cả hai.

Một người đọc bên phía kinh doanh thường muốn biết 2 điều, là mình đang đứng ở đâu và làm sao để chuyện này đừng lặp lại. Câu hỏi thứ hai thường là chỗ nằm phần điểm cao hơn, hay gói trong 1 hoặc 2 đoạn cuối, và cũng là chỗ phần lớn sinh viên không viết gì cả.

Bằng chứng: Đề cương của Curtin liệt kê quản trị rủi ro, điều khoản chấm dứt và giải quyết tranh chấp thành những thành phần độc lập chứ không coi chúng là phần phụ thêm sau các chế tài, và một điều khoản soạn tốt có thể đứng cạnh các cơ chế bảo vệ theo luật định như Australian Consumer Law chứ không thay thế hoàn toàn chúng. Một điều khoản giới hạn trách nhiệm, định nghĩa một thuật ngữ thật chính xác trong 1 hoặc 2 câu, hay quy định cách một bất đồng được đưa lên cấp cao hơn trong vòng 30 ngày làm được nhiều việc trên thực tế hơn bất kỳ chế tài nào đòi sau khi sự đã rồi, bởi chế tài là thứ còn lại khi khâu phân bổ đã thất bại.

Ví dụ: Một bản memo về một hợp đồng cung ứng có hàng lỗi kết lại bằng phần đánh giá thiệt hại, và phần đó chính xác. Ghi chú của cố vấn chỉ có một dòng, hỏi một hợp đồng tốt hơn thì lẽ ra đã viết gì. Sinh viên đó thêm một mục kết 150 chữ, đề xuất một định nghĩa cụ thể cho hàng hoá và một khung kiểm hàng trong 5 ngày làm việc. Đó lại là phần duy nhất trong bản memo được người chấm gọi tên để khen.


Điểm Credit và điểm Distinction khác nhau ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Khác biệt nằm ở chỗ bài làm xử lý mức độ chắc chắn có trung thực hay không. Bài yếu hơn thường nêu kết luận chắc chắn hơn mức dữ kiện cho phép, hoặc rào đón kỹ tới mức không tư vấn được gì. Bài mạnh hơn chỉ đúng dữ kiện đang quyết định kết quả, nói chuyện gì sẽ khác nếu dữ kiện ấy khác, và cho người đọc biết cần tìm hiểu thêm điều gì.

Bài yếu kiểu rào đón thường dàn trải qua 3 tới 4 trang, còn bài mạnh hay gói phần việc cần tìm hiểu tiếp vào 1 câu kết. Một kết luận tự gọi tên điểm yếu của chính nó đọc lên như năng lực chứ không phải sự do dự.

Bằng chứng: Tư vấn pháp lý dạng dự báo về bản chất mang tính xác suất, vì mục đích của nó là ước lượng một kết quả trước khi toà phán, và Neumann và cộng sự (2021) coi chính đặc điểm này là ranh giới tách lối viết dự báo khỏi lối viết thuyết phục. Lời tư vấn trình bày một xác suất như một điều chắc chắn là mô tả sai mức hiểu biết hiện có, và trong bối cảnh bài chấm, nó còn lấy mất cơ hội để sinh viên cho thấy chính phần lập luận mà người chấm đang muốn nhìn.

Ví dụ: Hai sinh viên đi tới cùng một kết luận trên cùng một đề, đều trong giới hạn 1.800 chữ. Một người viết rằng điều khoản sẽ được xem là điều kiện cơ bản (condition). Người kia viết rằng điều khoản nhiều khả năng được xem là điều kiện cơ bản, rằng kết quả phụ thuộc vào việc thời hạn giao hàng thiết yếu tới đâu đối với bên mua vào lúc giao kết, và rằng bằng chứng về các trao đổi trước hợp đồng sẽ định đoạt chuyện đó. Bài thứ hai được điểm cao hơn, và không phải vì nó dài hơn.


Nên chuẩn bị thế nào trong suốt kỳ học?

Trả lời trực tiếp: Hãy dựng sớm bảng kiểm các yếu tố cấu thành và giữ một danh sách án lệ ghi lại mỗi vụ đã phán điều gì, thay vì mỗi vụ nói về chuyện gì. Với memo, viết khuyến nghị trước rồi lắp phân tích vào để đỡ cho nó. Với bài thi, luyện nhận diện vấn đề dưới đồng hồ thay vì đọc lại ghi chép.

Bảng kiểm và danh sách án lệ nên xong trong 2 tuần đầu. Sau khi viết bản memo theo thứ tự đó, hãy kiểm lại xem từng đoạn có xứng đáng với chỗ đứng của nó so với khuyến nghị hay không. Một bài thi điển hình kéo dài 2 tiếng, và kiểu hỏng ở một bài thi luật hợp đồng tính giờ gần như không bao giờ là do không biết mà gần như luôn là do không kịp chọn việc nào làm trước.

Bằng chứng: Các quy tắc trong luật hợp đồng có số lượng hữu hạn và cấu trúc chặt, điều mà Carter (2018) trình bày trọn trong một cuốn sách gồm hình thành, điều khoản, chấm dứt và chế tài, nên giá trị tăng thêm của lần đọc ghi chép thứ 4, sau 3 lượt trước đó, gần bằng không, trong khi giá trị tăng thêm của lần làm bài tính giờ 2 tiếng đầu tiên thì rất lớn. Môn có một phần đánh giá bằng trắc nghiệm càng thưởng cho lối luyện chính xác kiểu này, vì các phương án gây nhiễu trong một câu hỏi soạn tốt nhắm vào ngoại lệ chứ không nhắm vào quy tắc.

Ví dụ: Một sinh viên đã đọc tài liệu môn 3 lượt làm đề thử đầu tiên khi còn 7 ngày nữa là thi, và trong 120 phút cho phép chỉ làm được khoảng một nửa. Can thiệp duy nhất của cố vấn là đề nghị bạn ấy làm thêm 3 đề nữa dưới đồng hồ. Độ chính xác của sinh viên đó không cải thiện bao nhiêu, nhưng phần đề phủ được tăng gần gấp đôi, và phủ được tới đâu mới chính là thứ đang lấy mất điểm của bạn ấy.


Câu hỏi thường gặp

Không có nền tảng luật thì học BLAW2012 được không?
Bạn cần môn luật kinh doanh nhập môn, là điều kiện tiên quyết được ghi rõ, nên môn có giả định một phần nền luật chứ không phải hoàn toàn không giả định gì. Ngoài điều đó ra, môn được dựng cho sinh viên khối kinh doanh chứ không phải cho sinh viên luật. Thứ môn đòi hỏi là bạn chịu làm việc với ngôn từ chính xác, vì trong luật hợp đồng, một khác biệt nhỏ ở câu chữ thường làm đổi cả kết quả.

Nên trích bao nhiêu án lệ trong bản memo?
Đủ để đỡ cho từng bước lập luận, không hơn. Một bản memo 2.000 chữ trích 20 án lệ thường cho thấy bạn đã đọc nhiều chứ chưa cho thấy bạn có phán đoán, trong khi 4 tới 6 căn cứ chọn kỹ thường làm được nhiều việc hơn. Trích đúng căn cứ thật sự định đoạt luận điểm của bạn, kèm lý do vì sao nó áp dụng vào bộ dữ kiện này, đáng giá hơn một danh sách dài.

Bản memo có nên nêu cả lập luận bất lợi cho thân chủ không?
Có. Neumann và cộng sự (2021) cho rằng lối viết tư vấn được kỳ vọng phải thẳng thắn, và một thân chủ không biết điểm yếu trong thế của mình thì không thể ra quyết định thật. Thừa nhận lập luận phản bác mạnh nhất, thường trong 1 hoặc 2 đoạn, rồi giải thích vì sao nó không làm đổi khuyến nghị sẽ làm lời tư vấn chắc hơn.

Phần trắc nghiệm có đáng ôn nghiêm túc không?
Nó đáng được ôn chính xác hơn là ôn lâu, nhất là ở những kỳ nó chiếm 10% tới 20% điểm cuối kỳ. Câu hỏi dạng này thường xoay quanh các ngoại lệ và ranh giới giữa các yếu tố cấu thành, nên luyện phân biệt cho sắc hữu ích hơn đọc lại phần tóm tắt chủ đề.

MAAS có hỗ trợ BLAW2012 không?
Có. Dịch vụ hỗ trợ assignment và essay của MAAS đồng hành cùng bạn qua môn học theo mô hình Outline → Draft → Final, gồm lập bản đồ vấn đề pháp lý, dựng cấu trúc memo, chọn căn cứ và luyện đề tính giờ cùng cố vấn có nền tảng luật thương mại. MAAS hướng dẫn trên bài làm của bạn, không viết bài thay bạn.


Sẵn sàng viết một bản memo BLAW2012 mà người đọc dùng được?

Nếu bạn đã nắm luật mà bản memo vẫn bị nhận xét là mang tính mô tả, vấn đề thường nằm ở người đọc bạn hình dung trong đầu chứ không nằm ở phần tài liệu bạn đã tra. Dịch vụ hỗ trợ assignment và essay của MAAS làm việc bên cạnh bạn theo trình tự Outline → Draft → Final, để phần lập luận pháp lý vẫn là của bạn còn lời tư vấn trở nên dùng được. Với dịch vụ này, mỗi lượt đồng hành đặt cùng bạn một mục tiêu điểm theo ba mức (Pass, Merit hoặc Distinction) ngay từ đầu, kèm 45 ngày hỗ trợ tiếp sau khi nộp bài.

Bạn gửi đề cương môn BLAW2012, và MAAS ghép bạn với một chuyên gia luật thương mại trong vòng 48 giờ. Trong hơn 100 chuyên gia của MAAS, 23% có bằng Tiến sĩ.

Đặt lịch tư vấn miễn phí 15 phút về BLAW2012 cùng MAAS →


Bài liên quan


References

  • Carter, J. W. (2018). Contract law in Australia (7th ed.). LexisNexis Butterworths.
  • Mangan, J., Cohen, D., Easterlin, F., Goad, B., Gravel, G., Lyndale, C., Miseyko, G. M., & Whitest, E. (2025). Legal writing manual (4th ed.). University of Georgia School of Law, Affordable Learning Georgia. https://digitalcommons.law.uga.edu/books/196
  • Neumann, R. K., Margolis, E., & Stanchi, K. M. (2021). Legal reasoning and legal writing (9th ed.). Aspen Publishing.
  • Paterson, J., Robertson, A., & Duke, A. (2020). Principles of contract law (6th ed.). Thomson Reuters.

Tools & resources


Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Dịch vụ hỗ trợ assignment và essay của MAAS là đối tác cố vấn, đồng hành cùng sinh viên theo mô hình Outline → Draft → Final với phản hồi phát triển từ chuyên gia đúng chuyên ngành. MAAS không viết hay nộp bài thay sinh viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.