Sinh viên coi LAWS121 là môn nhập môn, và cái tên của nó đúng là nói vậy. Nhưng xét về cấu trúc, nó là một thứ khác.
Sinh viên coi LAWS121 là môn nhập môn, và cái tên của nó đúng là nói vậy. Nhưng xét về cấu trúc, nó là một thứ khác. Môn này mở cho mọi người đăng ký, hai môn luật kế tiếp bị khoá cho tới khi bạn qua được nó, và điểm của bạn ở cả ba môn đầu tiên ấy mới là thứ quyết định bạn có được học tiếp năm hai ngành Luật hay không. Nghĩa là môn nghe thân thiện nhất trong cả chương trình lại là môn gánh hậu quả nặng nhất, và điều đó thay đổi cách bạn nên viết ngay từ tuần đầu. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như thế.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi chuyên gia Luật cấp cao (Tiến sĩ, Luật)
Cập nhật: 12/08/2026
Chuyên mục: writing-tips
Môn này là gì, và nó nằm ở đâu trong chương trình?
Trả lời thẳng: Tại Te Herenga Waka Victoria University of Wellington, LAWS121 là môn Introduction to the New Zealand Legal System, 20 điểm tín chỉ, dạy ở kỳ đầu tiên trong năm. Đây là một trong bốn môn bắt buộc bậc 100 của chương trình Cử nhân Luật, cùng với LAWS122 Introduction to Case Law, LAWS123 Introduction to Statute Law và MAOR126 He Herenga Tāngata. LAWS121 mở cho mọi người có chứng nhận University Entrance, tuỳ sức chứa lớp, và phải qua được môn này mới đăng ký được LAWS122 lẫn LAWS123.
Bằng chứng: Khoa công bố cấu trúc này công khai. Chương trình LLB kéo dài bốn năm, 480 điểm, gồm 21 môn luật, và trang hướng dẫn đăng ký ghi rõ rằng muốn vào năm hai ngành Luật thì phải qua LAWS121, 122 và 123, trong đó việc xét tuyển có tính tới kết quả các môn luật năm nhất.
Ví dụ: Một bạn coi kỳ đầu là giai đoạn làm quen, qua môn khá thoải mái, rồi mới phát hiện rằng những điểm qua-môn-thoải-mái ấy đang phải cạnh tranh trong một khoá mà người ta xét tuyển bằng điểm chứ không phải bằng việc hoàn thành. Về mặt học thuật không có gì sai sót cả. Chỉ là bạn ấy chưa từng được ai nói cho biết cuộc đua thật sự đang diễn ra.
Vì sao trình tự ba môn lại quan trọng hơn cả nội dung?
Trả lời thẳng: Vì ba môn luật bậc 100 không phải ba môn riêng biệt. Chúng là một lập luận duy nhất được chia ra cả năm học. LAWS121 đưa cho bạn hệ thống, LAWS122 đưa cho bạn cách thẩm phán lập luận bên trong hệ thống đó, còn LAWS123 đưa cho bạn cách luật thành văn vận hành và được giải thích. Nếu bạn học LAWS121 như một danh sách thiết chế, hai môn sau sẽ không có gì để bám vào.
| Cách sinh viên tiếp cận LAWS121 | Hệ quả về sau | Nên làm gì thay vào đó |
|---|---|---|
| Học thuộc thứ bậc toà án | Gọi tên được các toà nhưng không giải thích nổi vì sao một bản án có tính ràng buộc | Học thứ bậc như cơ chế làm cho án lệ vận hành được |
| Coi phần Hiệp ước Waitangi là kiến thức nền | Lúng túng khi Hiệp ước xuất hiện trong môn Public Law | Coi đó là một nguồn lập luận pháp lý đang sống |
| Coi tikanga là bối cảnh văn hoá | Không tham gia nổi khi tikanga xuất hiện với tư cách luật | Coi đó là một hệ thống pháp luật có logic riêng |
| Học các thiết chế hiến định như dữ kiện | Không tranh luận được về chúng | Hỏi mỗi thiết chế ràng buộc điều gì, và không với tới điều gì |
Bằng chứng: Khoa mô tả năm nhất là năm bao quát các góc nhìn phê phán, lý thuyết và văn hoá về hệ thống pháp luật, về luật thành văn cùng quy trình soạn thảo và giải thích, về án lệ và cách án lệ ràng buộc, và về bối cảnh xã hội lý giải vì sao thẩm phán quyết định như họ đã quyết. Vế cuối cùng mới là chỗ lộ ra bản chất. Một môn hỏi vì sao thẩm phán quyết định như vậy thì không phải môn bắt bạn học thuộc họ đã quyết cái gì.
Ví dụ: Khi được hỏi vì sao một thẩm phán Toà Cấp cao lại đi theo một bản án cũ của Toà Phúc thẩm mà chính ông rõ ràng không tán thành, một bài yếu hơn trả lời rằng toà cấp dưới phải theo toà cấp trên. Một bài mạnh hơn nói đúng như vậy, rồi giải thích thêm quy tắc đó mang lại gì cho cả hệ thống và nó phải trả giá bằng gì trong đúng vụ việc này.
Phần tikanga Māori là gì, và vì sao nó không phải bối cảnh cho có?
Trả lời thẳng: Nó là luật. Giáo dục pháp luật ở New Zealand hiện coi tikanga Māori là một nguồn của quyền và nghĩa vụ pháp lý, chứ không phải nền văn hoá bên lề, và bài viết của bạn cần phản ánh đúng điều đó, nếu không nó sẽ bị đọc ra là nhầm phạm trù.
Bằng chứng: Đây là một thay đổi chính thức, không phải sở thích diễn đạt. Hội đồng Giáo dục Pháp luật New Zealand đã quyết rằng te ao Māori và tikanga Māori sẽ được dạy như nội dung cốt lõi trong chương trình LLB, với các yêu cầu áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2025, gồm việc dạy và đánh giá phần tikanga liên quan tới từng môn cốt lõi, và tikanga được dạy như một môn bắt buộc riêng. Te Herenga Waka đã đưa tikanga vào giảng dạy năm nhất từ năm 2021. Nền học thuật thì còn có trước đó. Ruru (2018) trình bày lập luận cho một vai trò lớn hơn của các bộ luật đầu tiên, tức luật của các dân tộc bản địa, bên trong những hệ thống pháp luật của xã hội định cư đương đại. Jones (2009) đưa ra một phân biệt dùng được ngay khi làm bài, tách riêng ba thứ: các vấn đề pháp lý của người bản địa, góc nhìn của người bản địa về luật, và bản thân luật của người bản địa. Ông lập luận rằng ba loại nội dung này phục vụ những mục tiêu khác nhau và phải được truyền đạt theo những cách khác nhau.
Ví dụ: Hai bạn cùng viết về một đề bài. Bạn thứ nhất nhắc tới tikanga trong đoạn kết nói về sự nhạy cảm văn hoá. Bạn thứ hai dùng thẳng phân biệt ba loại của Jones, xác định đề bài thật ra thuộc loại nào trong ba loại đó, rồi phân tích theo đúng loại ấy. Chỉ bạn thứ hai mới thật sự trả lời câu hỏi.
Nên viết về Hiệp ước Waitangi như thế nào?
Trả lời thẳng: Hãy viết về nó như một văn kiện pháp lý có lịch sử giải thích còn tranh cãi, đừng viết như một sự kiện lịch sử mà môn học tình cờ nhắc tới. Lỗi lặp đi lặp lại ở năm nhất là mô tả Hiệp ước nói gì rồi coi phần mô tả đó chính là phần phân tích.
Bằng chứng: Jones (2009) minh hoạ vấn đề này bằng một câu chuyện từ chính năm nhất của ông. Ông vừa viết một bài tán thành một bản án quan trọng của Toà Phúc thẩm về các nguyên tắc của Hiệp ước, và mẹ ông hỏi lại vì sao toà lại dùng tới nguyên tắc, thay vì cho hiệu lực đúng theo câu chữ vốn đã ghi rõ ràng thoả thuận. Câu hỏi ấy, theo lời ông, cho ông thấy có thể tồn tại một khoảng cách giữa thứ luật được dạy trong trường và trải nghiệm cùng góc nhìn của chính những người mà luật đó tác động tới. Khoảng cách đó đúng là thứ mà một bài năm nhất mạnh sẽ chạm vào, và bạn chạm được mà không cần nhận mình phát ngôn thay cho ai cả.
Ví dụ: Một bạn viết rằng Hiệp ước tồn tại ở hai bản văn không nói giống nhau, rồi dừng lại. Bản mạnh hơn của cùng đoạn đó sẽ hỏi tiếp về mặt pháp lý thì điều đó dẫn tới đâu: toà làm việc trên bản văn nào, vì sao học thuyết về các nguyên tắc lại hình thành, và học thuyết ấy mang lại được gì cùng không mang lại được gì.
Bài viết thật ra phải làm được điều gì?
Trả lời thẳng: Nó phải lập luận, chứ không phải tường thuật. Cách chấm ở năm nhất ngành Luật thưởng cho một quan điểm được bảo vệ trước quan điểm đối lập mạnh nhất, trong khi phần lớn bài nộp đầu tiên chỉ tóm tắt tài liệu thật chính xác rồi dừng lại ở đó.
Bằng chứng: Môn này nằm ở đầu một chương trình mà cả phương pháp là tranh tụng. Mọi môn về sau đều sẽ hỏi bên kia sẽ nói gì. Tập thói quen đó ngay từ LAWS121 không tốn thêm gì cả và sẽ tích luỹ dần, còn bắt đầu tập ở năm hai nghĩa là bạn phải cạnh tranh với những người đã có sẵn thói quen ấy.
Ví dụ: Một bài luận về chủ quyền của nghị viện trình bày quan điểm chính thống rất rõ và rất đầy đủ. Bài đó được điểm khá, và dừng ở khá. Bản có thể lên điểm sẽ nêu đúng quan điểm chính thống ấy, rồi hỏi thêm học thuyết này đang làm công việc gì ở một quốc gia không có văn bản hiến pháp tối cao, và lập luận mạnh nhất chống lại nó trông ra sao.
Sinh viên quốc tế nên xử lý phần kiến thức bản địa thế nào?
Trả lời thẳng: Hãy xử lý phần này một cách trực diện và xử lý ngay từ đầu. Một phần đáng kể của LAWS121 mặc định người học đã có sẵn nền kiến thức mà sinh viên học phổ thông ở New Zealand hấp thụ từ trước khi vào đại học, nên cách trung thực là chủ động dựng nền đó lên, thay vì hy vọng nó tự tích luỹ dần.
Bằng chứng: Môn học tích hợp các khái niệm tikanga Māori và mong sinh viên vận dụng chúng cho đúng trong lập luận pháp lý. Những khái niệm kiểu này không nhặt được từ một slide bài giảng, và coi chúng như từ vựng để rải vào bài sẽ cho ra thứ văn mà người chấm nhận ra ngay là hời hợt. Wallace (2024) nêu một ý liên quan, rằng tikanga khi được bàn bên trong một lớp học luật kiểu phương Tây là một phiên bản đã bị đặt vào khung cảnh khác, chứ không phải tikanga trong dạng nguyên bản, và muốn hiểu trọn vẹn thì phải qua trải nghiệm.
Ví dụ: Một bạn du học sinh dựng một bảng thuật ngữ chạy dài ngay trong ba tuần đầu, không phải bảng định nghĩa mà là bảng ghi mỗi khái niệm làm công việc gì trong một lập luận. Tới giữa kỳ, bạn ấy viết về quan hệ và nghĩa vụ thay vì dịch từ, và khác biệt đó hiện ra trong điểm số.
Một trình tự làm việc thực tế
- Đọc điều kiện xét tuyển vào năm hai ngành Luật ngay tuần đầu, đừng đợi tới tuần thứ mười. Biết rõ mình đang bị xét trên tiêu chí nào.
- Dựng ba môn bậc 100 thành một cấu trúc duy nhất. Giữ một tài liệu chạy dài nối hệ thống, án lệ và luật thành văn với nhau.
- Với mỗi thiết chế bạn học, viết một dòng về việc nó ràng buộc điều gì và một dòng về việc nó không với tới điều gì.
- Tập nêu lập luận đối lập mạnh nhất trước khi viết kết luận của mình.
- Coi phần tikanga là luật có logic nội tại riêng, và dùng ba loại nội dung của Jones để xác định đề bài đang hỏi loại nào.
- Đọc kỹ đề cương môn để nắm điều kiện dự thi và cấu trúc đánh giá. Đó là tài liệu gốc, và nó được phát ngay tuần đầu là có lý do.
Câu hỏi thường gặp
Môn LAWS121 có khó qua không?
Qua môn thường không phải phần khó. Áp lực nằm ở chỗ điểm môn này góp phần vào việc xét tuyển vào năm hai ngành Luật, nên mục tiêu thực tế cao hơn mức qua môn, và những bạn ngồi quanh bạn đều biết điều đó.
Em có cần thông thạo te reo Māori không?
Không cần. Cái được kỳ vọng là bạn tiếp cận các khái niệm tikanga với tư cách khái niệm pháp lý và dùng chúng cho chính xác, thay vì né tránh hoặc đem ra trang trí.
LAWS121 khác LAWS122 và LAWS123 nhiều không?
Ba môn chia việc cho nhau. LAWS121 đưa cho bạn hệ thống nhìn tổng thể, LAWS122 là án lệ và lối lập luận theo tiền lệ, còn LAWS123 là luật thành văn và việc giải thích luật. Cả hai môn sau đều đòi bạn qua LAWS121 trước.
Em học LAWS121 mà chưa cam kết theo hết chương trình LLB được không?
Môn này mở cho mọi người nên vẫn đăng ký được, tuỳ sức chứa lớp, và một số bạn học nó song song với một chương trình khác. Bước có tính chọn lọc là bước lên năm hai, không phải môn đầu tiên.
Bài tập năm nhất có nên trích bài báo khoa học không?
Hãy theo đề cương môn của bạn. Ở chỗ nguồn thứ cấp được khuyến khích, hãy dùng chúng để chống đỡ những khẳng định về việc luật đã phát triển ra sao hoặc đang bị tranh luận ở đâu, còn để nguồn sơ cấp làm công việc nói rõ luật là gì.
MAAS đứng ở đâu trong việc này
Chuyên gia MAAS làm việc cùng sinh viên luật, chứ không làm thay. Ở một môn năm nhất, những buổi hữu ích nhất thường lại là những buổi giản dị nhất: đọc bản nháp của bạn để tìm chỗ nào một đoạn mô tả đang đứng thay chỗ cho một lập luận, kiểm xem bạn đã đối diện với quan điểm đối lập mạnh nhất hay mới chỉ chọn một quan điểm dễ phản bác, và bảo đảm phần tikanga trong bài đang làm công việc pháp lý thật sự chứ không nằm yên ở đoạn kết. Bài viết vẫn là của bạn. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ học thuật và dịch vụ gia sư của MAAS là hai chỗ để bắt đầu.
References
Jones, C. (2009). Indigenous legal issues, Indigenous perspectives and Indigenous law in the New Zealand LLB curriculum. Legal Education Review, 19(2). https://doi.org/10.53300/001c.6225
Ruru, J. (2018). First laws: Tikanga Māori in/and the law. Victoria University of Wellington Law Review, 49(2), 211–228. https://doi.org/10.26686/vuwlr.v49i2.5321
Wallace, C. (2024, September). Tikanga and legal education. Māori Law Review. https://maorilawreview.co.nz/2024/09/tikanga-and-legal-education-christie-wallace/
Tools & resources
Te Herenga Waka Victoria University of Wellington. (2026). LAWS121 Introduction to New Zealand Legal System. https://www.wgtn.ac.nz/courses/laws/121/2026
New Zealand Law Society. (2024, June 13). The case for tikanga Māori: The LLB degree curriculum in a contemporary context. https://www.lawsociety.org.nz/news/publications/lawtalk/lawtalk-issue-958/the-case-for-tikanga-maori/
